Quy Nhơn trước 1975

đăng 19:39, 5 thg 4, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 11:00, 16 thg 9, 2014 ]
Sau hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh (từ 9-12 tháng 5 năm 1967), sáng 17/5/1967 đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (bí danh là Bảy Râu) Uỷ viên thường vụ Khu uỷ 5 thay mặt thường vụ Khu uỷ phổ biến cho đồng chí Nguyễn Trung Tín (bí danh Toàn), Bí thư Tỉnh uỷ và tôi - Tô Đình Cơ (bí danh là Văn Tiến) Phó Bí thư Tỉnh uỷ về kế hoạch chuẩn bị “đón thời cơ”. Đồng chí Nguyễn Xuân Hữu bàn với đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ chỉ định Đảng uỷ hoạt động:

Về phía tỉnh có: Đồng chí Tô Đình Cơ, Phó bí Thư Tỉnh uỷ; đồng chí Biên Cương (tức Nguyễn Phụng Khuông) Uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thị uỷ Quy Nhơn, đồng chí Đinh Bá lộc (bí danh Cường) chủ nhiệm chính trị Tỉnh đội Bình Định.

Về phía Sư III/ E12: có đồng chí Hoài, Chính uỷ; đồng chí Hồng, Trung Đoàn trưởng; đồng chí Vợi, phó Chính uỷ trung đoàn. 

Đảng uỷ hoạt động do đồng chí Tô Đình Cơ làm Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Hoài làm Phó bí Thư Đảng uỷ và khi hoạt động tại địa phương nào sẽ bổ sung đồng chí Bí thư Huyện uỷ huyện đó vào Đảng uỷ để thống nhất sử dụng lực lượng hoạt động địa phương.

Đảng uỷ phân công trách nhiệm cụ thể cho từng người; Đồng chí Biên Cương lãnh đạo Thị uỷ Quy Nhơn, lo việc khôi phục và mở rộng cơ sở vùng ven nội thị; xây dựng công sự mật ở cả Hưng Thạnh, Đông Định, Lương Nông vành đai Quy Nhơn và nội thị trong nhà những cơ sở tin cậy. Đồng chí Đinh Bá Lộc chỉ huy Đ10, D50 vượt núi Bà vào khu Đông chỉ đạo lực lượng tỉnh phối hợp lực lượng vũ trang của các huyện khu Đông đóng chân trên địa bàn khôi phục lại thế làm chủ và tranh chấp vùng này. Đồng chí Tô Đình Cơ cùng với đồng chí Hoài, Hồng, Vợi lãnh đạo và chỉ đạo E12 phối hợp với lực lượng vũ trang, chính trị của các huyện Phù Mỹ, Phù Cát khôi phục các vùng ven biển từ bắc Phù Mỹ vào đến Cát Minh - Phù cát.

Ta mở màn bằng pháo kích đơn vị dù 173 Mỹ tại Đèo Nhông, cắt cầu Bắc Dương từ đường số 1 xuống các xã Mỹ Lợi, Mỹ Thắng và tấn công vào Thị Trấn Phù Mỹ nhằm thu hút lực lượng địch tập trung đối phó với quân đội địch tại Đèo Nhông vào quận Lỵ Phù Mỹ, tạo sơ hở cho ta khôi phục lại thế làm chủ các xã Mỹ Lợi, Mỹ Thắng, Mỹ Thọ, Mỹ Cát và các thôn An Lương, An Hoan( Mỹ Chánh). Thừa thắng, E12/FIII phát triển sang Phù Cát, sử dụng đội công tác Cát Minh và lực lượng Huyện đứng chân tại đây khôi phục thế làm chủ với những mức độ khác nhau các thôn Đức Phổ, Xuân An, Trung An. Thế là trong vòng một tháng chúng ta đã cơ bản khôi phục lại phong trào từ cái xã vùng biển Phù Mỹ và các thôn ven Đầm Đề Gi giáp rìa Núi Bà.

Ngày 26-6-1967, D6/E12 do anh vợi Phó Chính uỷ trung đoàn 12 chỉ huy đi cùng với tôi vượt Núi Bà vào khu Đông phối hợp với lực lượng của Tỉnh và các huyện xã Đông nam Phù Cát, đông An Nhơn, đông Tuy Phước và Quy Nhơn tiếp tục khôi phục hành lang, bàn đạp đến các thôn vành đai Quy Nhơn. Với thắng lợi này hãng thông tấn My AP bình luận : “Việt Cộng cắm cờ trên cái nôi của chương trình “bình định” của Cômơ (Rober Komer) 100/114 thôn của huyện Tuy Phước coi như đã “bình định” bị mất sạch”...

Từ 1 - 8/11/1967, Tỉnh uỷ tổ chức cuộc họp mở rộng có đoàn cán bộ các ngành của khu và đại diện thường vụ khu uỷ tham dự quán triệt Nghị quyết Bộ Chính Trị (tháng 6-1967) và Nghi quyết Khu uỷ (tháng 9-1967). Hội nghị đề ra phương hướng nhiệm vụ sắp đến của đảng bộ: “Động viên toàn đảng bộ và nhân dân đoàn kết nỗ lực phi thường quyết tâm thực hiện nhiệm vụ công kích và khởi nghĩa bằng 3 mặt giáp công thật mạnh mẽ để phối hợp với toàn khu và toàn miền hoàn thành nhiệm vụ trong xuân 1968”.

Hội nghị lập ban cán sự khu Đông gồm các đồng chí: Biên Cương; Nguyễn Đức Hương, tỉnh độ trưởng; Đinh Bá Lộc, Chủ nhiệm ban chính trị Tỉnh độ do đồng chí Tô Đình Cơ, phó bí thư Tỉnh uỷ làm Bí thư ban cán sự giúp thường vụ chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các công tác chuẩn bị hoạt động tại khu Đông và tấn công nổi dậy ở Quy Nhơn.
Thường vụ điều động các đồng chí Tỉnh uỷ viên và 13 cán bộ chủ chốt các ngành của Tỉnh tăng cường khu Đông, chuyển 6 cán bộ hợp pháp nữ gồm một đồng chí thường vụ Tỉnh uỷ (chị Đinh Thị Vĩ) và 5 cán bộ của các ngành tuyên huấn, mặt trận, phụ nữ, binh vận, đấu tranh chính trị là các chị: Chị Ái, Chị Tâm, Chị Hường, Chị Anh, Chị Trang xuống hoạt động trọng điểm Quy Nhơn. Trong cấp tỉnh uỷ, 50 % Tỉnh uỷ viên được điều xuống trọng điểm. Rút một bộ phận du kích khu Đông, bộ đội địa phương Tuy Phước bổ sung cho bộ đội tỉnh, 20 đảng viên ưu tú của Phước Sơn, Phước Hậu được chọn làm liên lạc dẫn đường và quyết tử binh vận.

Bốn đồng chí phó ban của khu như: Ban tổ chức (anh Đồng); Ban tuyên huấn (anh Huấn), Ban Binh vận (anh Hải Ninh), Ban đấu tranh chính trị (anh Tám Lý), bám theo hành lang bàn đạp ven biển vào khu Đông tham gia hoạt động ở trọng điểm.

Tại Quy Nhơn ta tranh thủ được một thiếu tá cảnh sát , một trung tá kho 22, một giáo viên trung học, một ký giải , mười học sinh trường hướng đạo, một bác sĩ, một nhân sĩ có uy tín trong tỉnh. Ta ghi âm lời kêu gọi chuẩn bị đưa lên đài phát thanh khi ta tấn công nổi dậy thắng lợi chọn vẹn.

Nhưng diễn biến đột xuất xảy ra ngay chiều ngày 29 tháng 1 năm 1968 (tức ngày cuối năm Đinh Mùi) địch đánh vào vị trí thị đội , đồng chí chính trị viên Thị đội (bí danh là Tuấn hy sinh, tất cả các sơ đồ từ hướng tiến nhập và các vị trí ta tiến công trong nội thị Quy Nhơn đều lọt vào tay địch. Đồng chí Biên Cương, Bí thư Thị uỷ người nắm kế hoạch hoạt động trong thị xã bị địch bắt ngay trong thị xã Quy Nhơn. Địch đánh hơi thấy sự chuẩn bị của ta nên chúng thiết quân lực trong Thị xã, cấm thuyền bè đi lại trên Đầm Thị Nại, tăng gấp rưỡi lực lượng cảnh sát dã chiến, tăng thêm quân Mỹ bảo vệ cả dinh Tỉnh trưởng và các vị trí then chốt. Thành lập lực lượng hỗn hợp Mỹ - Việt - Triều bảo vệ nghiêm mật thành phố Quy Nhơn.

Với tình hình diễn biến như trên lại không nhận được lệnh điều chỉnh giờ nổ súng (vì lịch năm Đinh Mùi giữa miền Bắc - miền Nam chênh lệch một ngày) nhưng với tinh thần “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” lực lượng ta vẫn kiên quyết chuyển hướng tiến nhập vào Quy Nhơn từ khu 6 hành quân ra Hưng Thạnh, lợi dụng lúc thuỷ triều dòng kiệt, toàn bộ lực lượng đột nhập một hướng cạnh đồn cảnh sát Bạch Đằng lúc 3 giờ 30 phút sáng ngày 30/1/1968 (sau giao thừa) quân ta nhanh chóng toả ra tiến đánh các mục tiêu: Quân vụ thị trấn, Đài phát thanh, ga xe lửa, đồn cảnh sát Bạch Đằng, và đánh sập một lô cốt phòng vệ dinh Tỉnh trưởng nguỵ. D50 chiếm lĩnh án ngữ xóm Vách đoạn đường từ Cầu Đôi vào Quy Nhơn nhằm ngăn cản địch kéo về ứng cứu cho Quy Nhơn. Vòng ngoài trung đoàn 10 đánh chiếm đèo Cù Mông diệt lực lượng địch từ trong ra ứng cứu Quy Nhơn; D6/E12 thế đội II của trọng điểm tấn công nổi dậy Quy Nhơn, cấp trên lại điều từ tối 30-1-1968 lên Phương Danh huyện An Nhơn ngăn chặn địch kéo quân từ đường số 1 phía bắc vào ứng cứu Quy Nhơn.

Trong những ngày 31 tháng 1 đến 1,2 tháng 2 năm 1968 lực lượng ta đẩy lùi hàng chục đợt phản kích của 10 tiểu đoàn Mỹ, Nam Triều Tiên, và quân Nguỵ từ ngoài kéo vào ứng cứu.

Hoà với tiếng súng tấn công của ta, mặc dù địch ra lệnh cấm đốt pháo nhưng quần chúng ở các khu lao động của thị xã vẫn đốt pháo vang trời khiến địch thêm rối loạn. Mặt khác, công nhân nhà máy điện và nhà máy nước tự động cắt điện, nước để hưởng ứng.

Khi Đ10 chiếm lĩnh đài phát thanh và các mục tiêu khác ở trung tâm thị xã, hơn 1.000 đồng bào cùng bộ đội lập chướng ngại vật và đồng bào các khu lao động khác sẵn sàng nổi dậy.

Tại Đài phát thanh . Đ10 đặc công dồn số tù binh bắt ở các điểm ta đánh và lính nguỵ bảo vệ Đài phát thanh dồn vào đây 200 tên. Chiến sự diễn ra khá ác liệt nhưng Đ10 vẫn trụ lại đến 5-2-1968 đánh lui 4 đợt phản kích của địch diệt 130 tên. Đồng chí Biên Cương bí thư thị uỷ Quy NHơn được giải thoát khi ta đánh chiếm quân vụ thị trấn đã cùng chiến đấu với bộ đội và anh dũng hy sinh. Đồng chí tiểu đoàn trưởng Võ Mười cùng với các chiễn sĩ Đ10 chiến đấu đến viên dạn cuối cùng và hy sinh anh dũng tại Đài phát thanh. Gương chiến đấu ngoan cường của các đồng chí là biểu tượng sáng ngời về tinh thần “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” của quân dân Bình Định trong tết Mậu Thân.

Sáng ngày 5-2-1968 hai cơ sở nữ học sinh trường Cường Để tìm cách ra Hưng Thạnh báo cho ban cán sự biết là: “Đài Hà Nội nói: Cuộc tấn công, nổi dậy ở miền Nam là cả thời kỳ, cả giai đoạn” chứ không phải ta làm cái “rụp” là xong đâu”. Chúng tôi nghĩ khi bước ngoặc của đại cuộc Trung ương có thể sử dụng phương tiện thông tin đại chúng để chỉ đạo, nên cơ sở được hiểu sớm không đợi sự hướng dẫn của thành phố, tỉnh . Anh Huấn góp ý với ban chỉ đạo : “ nên tổ chức một cuộc nhập thị nguỵ trang bằng hình thức đi lấy nước” để báo tin cho lực lượng ta nhanh chóng rút quân. Chị em phị nữ Tỉnh và Thị xã cấp tốc tổ chức cuộc nhập thị hàng ngàn chị em do chị Hương (con dâu bà Lễ ông Cà ở Phượng Bắc, thôn Dương Thiện, xã Phước Sơn. Gia đình này đã xây dựng công sự mật cho ban chỉ đạo đứng chân khôi phục phong trào tấn công nổi dậy vào Quy Nhơn) làm mũi trưởng đột nhậo vào Quy Nhơn. Mười chị em đi đầu mang theo thùng, vò đựng nước, lính địch tưởng lầm là đồng bào Hưng Thạnh đi lấy nước về dùng nên chị em vượt qua được các trạm gác của địch . Lực lượng lớn của đoàn nhập thị ào ạt nối theo, địch lập tức ngăn chặn, đàn áp đẫm máu. Toán đi đầu lọt được vào nội thị, lập tức toả vào xóm vách gặp được lực lường D50 báo cáo cán bộ chiến sĩ biết tin đài Hà NộI nói như trên và ý đồ của lãnh đạo nên tìm cách lui quân sớm. Do đó, đêm 5-2-1968 toàn bộ D50 rút ra khỏi Quy Nhơn theo hành lang bàn đạp đã chuẩn bị sẵn nên đảm bảo an toàn. 

Cùng thời điểm tấn công, nổi dậy ở trọng điểm Quy Nhơn, các huyện khác cũng đồng loạt tấn công và nổi dậy ở quân lỵ và vùng tranh chấp, vùng địch kẹp, thu được những thắng lợi đáng khích lệ.

Trong hoàn cảnh phong trào vừa hồi phục sau 2 mùa khô (1965-1966, 1966-1967) chẳng những chuyển được thế phong trào lên mà còn cùng toàn khu, toàn miền Nam thực hiện cuộc tập kích chiến lược vào các cơ quan đầu não của địch. Lần đầu tiên đưa chiến tranh vào tận hang ổ địch trên quy mô toàn tỉnh. Cuộc tấn công, nổi dậy của Bình Định đã góp phần cùng quân dân toàn niềm Nam giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, dẫn đến phải rút quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miến Nam Việt nam.

T.Đ.C
Quy Nhơn là trọng điểm của tỉnh đồng thời là một trong những trọng điểm của khu 5/ Tô Đình Cơ
Bình Định.- 1998.- Số Xuân.- Tr. 3 (1.275)
Comments