Địa danh Bình Định nhìn từ góc độ văn hóa (tiếp theo)

đăng 07:46, 6 thg 4, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 11:19, 16 thg 9, 2014 ]

Phạm Thị Phượng

CHƯƠNG 2.          KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH

                          TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

 

2.1. Những đặc điểm cơ bản của địa danh tỉnh Bình Định

2.1.1. Nguyên tắc định danh và sự biến đổi địa danh ở Bình Định

Ngôn ngữ là một thành tố cấu thành văn hoá. Trong ngôn ngữ, cùng với nhân danh, địa danh cũng chiếm một số lượng đáng kể. Thông qua hệ thống địa danh, người ta không chỉ góp phần nghiên cứu phương ngữ của một vùng miền, một đất nước mà còn góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá của một dân tộc. Lịch sử hình thành và phát triển của một vùng đất có nhiều tên gọi khác nhau, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Vì thế, nghiên cứu địa danh sẽ góp phần tìm hiểu lịch sử phát triển của một vùng đất, làm sáng rõ sự ảnh hưởng và tác động của những nhân tố bên ngoài vào cách đặt tên: Đặc điểm văn hoá, sự di chuyển, tiếp xúc, giao lưu giữa các dân tộc về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán,...đúng như PGS.TS. Lê Trung Hoa đã khái quát “Nghiên cứu địa danh sẽ góp phần nghiên cứu văn hoá một vùng lãnh thổ - một trong những vấn đề đang được quan tâm hiện nay” [ ; ].

2.1.1.1. Nguyên tắc chung

Việt Nam một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên dải đất hình chữ S. Và hơn thế nữa nước ta có một lịch sử hình thành và phát triển khá lâu dài do đó vấn đề địa danh nước ta cũng giống như trên thế giới, vô cùng phức tạp và có nhiều biến đổi qua từng giai đoạn. Cũng như các địa phương khác, Bình Định là một tỉnh có lịch sử hình thành khá lâu dài, là mảnh đất tập trung rất nhiều đồng bào dân tộc anh em sinh sống như: Kinh, Bana, Chăm…bởi những lẽ đó mà địa danh của Bình Định cũng mang tính phức tạp chung giống như địa danh Việt Nam, chịu tác động của các quy luật xã hội, dân tộc và ngôn ngữ, địa danh cũng thường có những biến đổi nhất định.

Nghiên cứu về địa danh nước ta bắt đầu từ lâu, song việc tìm ra các đặc điểm, các nguyên tắc mang tính lý luận, hệ thống thì lại chưa được chú ý. Trong khi đó đây lại là vấn đề cơ bản nhất của Địa danh học, nhất là với các nước có lịch sử phát triển lâu đời. Đặt biệt việc nghiên cứu địa danh tại những địa phương riêng biệt (đơn vị tỉnh) ở Việt Nam cũng chưa thực sự phổ biến. Có lẽ, đây cũng là nguyên nhân cơ bản khiến cho ngành Địa danh học ở Việt Nam tuy có lịch sử phát triển và tồn tại khá lâu dài những lại chậm phát triển. Các nhà địa danh Xô Viết (cũ) thường căn cứ vào đối tượng mà địa danh biểu thị để định danh tức là phải căn cứ vào nội dung của khái niệm được định danh, vì thế họ đã nêu các nguyên tắc định danh theo phương thức: Phương danh (tên các địa phương), sơn danh (tên núi, gò đồi…), thủy danh (tên các dòng chảy, ao, hồ…), phố danh (tên các đường phố, thị thành…)

Theo tài liệu khảo cứu của tác giả Nguyễn Văn Âu, nguyên tắc chung trong định danh các địa danh Việt Nam, “các tác giả trước đây cho rằng nhân dân ta thường dựa vào các sách cổ như: Phong thổ, Cổ chí hay là thiên Vũ Cống trong Kinh Thư, tức là khi đặt tên một địa danh, thường dựa trên các nguyên tắc cơ bản là: dựa vào các đặc điểm tự nhiên (sông, núi…), các điều kiện sinh hoạt xã hội, sản xuất hay một sự kiện lịch sử nào đó” [  ]. Vì vậy, dựa vào đặc điểm khái quát của địa hình, ngôn ngữ và đặc trưng văn hoá của vùng miền là nguyên tắc khái quát nhất để định danh các địa điểm, khu vục cụ thể.

2.1.1.2. Nguyên tắc cụ thể

Từ các quan niệm đã trình bày trên, việc xác định một địa danh đều tuân theo các nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này được thể hiện rõ trong các địa danh cụ thể. Tuy vậy, ở đây cũng có thể nêu lên một số nguyên tắc chủ yếu:

a.  Xét từ phương diện địa lý học

Chúng ta có những phương thức định danh các đối tượng địa lý tự nhiên, địa danh được thực hiện theo một số nguyên tắc sau:

- Định danh theo địa phương: Một số địa danh cụ thể được xác định theo tên của một địa danh sẵn có ở địa phương. Đó là các địa danh: Sông Kim Sơn, sông Gò Bồi, biển Trung Lương, …

- Phương hướng: Một vài địa danh cũng đặt theo phương hướng chung như: biển Đông, xã Mỹ Chánh Tây, thôn Dương Liễu Nam, Tam Quan Bắc…

- Dân tộc, ngôn ngữ địa phương: Một số địa danh cũng được gọi theo tên các dân tộc ít người ở địa phương như: thành Hời, thành Chàm.

- Tên người: Địa danh có khi được đặt theo tên người như: Truông Bà Đờn, ẹo Bà Nho, cầu Ông Đô, chùa Ông Núi… đặc biệt đó là đối với tên các con đường ở các thành phố, người ta thường lấy tên của các vị Vua, các nhân vật anh hùng để đặt tên cho các con đường như: An Dương vương, Tây Sơn, Tăng Bạt Hổ…

- Lịch sử: Một số địa danh cũng được đặt theo tên các sự kiện lịch sử nào đó: Quảng trường chiến thắng, đường 31.3, rạp 1 tháng 4…

- Đặc điểm chung: Một vài địa danh mang tính chất chung như:…….

b. Xét từ phương diện kinh tế xã hội

Các địa danh về kinh tế xã hội cũng không kém phần phức tạp và cũng được xác định theo một số nguyên tắc sau:

          - Địa phương: Một số địa danh đặt theo tên địa phương sẵn có như: thị trấn Phú Phong, thị trấn Bồng Sơn…

          - Đặc sản: Địa danh cũng được đặt tên theo các đặc sản địa phương như: thôn Diêm Tiêu, Nại Muối…

          - Nghề nghiệp: Một số địa danh cũng được xác định theo nghề nghiệp địa phương như: …

          - Tình Cảm, nguyện vọng: Một số địa danh được đặt tên theo tình cảm, nguyện vọng của nhân dân địa phương như: An Lão, Mỹ Thọ, Phước An, Phước Nghĩa…

          - Tên người: Các địa danh được đặt theo tên người như: tỉnh Tăng Bạt Hổ (Bình Định ngày nay), công viên Quang Trung, đường An Dương Vương...

          - Dân tộc địa phương: Cũng có địa danh được đặt theo tên dân tộc địa phương như: tỉnh Chiêm (Bình Định ngày nay)…

          - Thứ tự: Các địa danh cũng được xác định theo thứ tự như: cầu Hà Thanh 1, 2, 3…, Hồ Núi Một

          - Phương Hướng: Các địa danh được xác định theo phương hướng như: Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam…

          - Màu sắc: Cù Lao Xanh, núi Xanh…

          - Đặc điểm chung: Một số địa phương cũng được xác định theo đặc điểm xã hội địa phương như: …….

          c. Xét từ phương diện ngôn ngữ

          Từ góc độ ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu dựa vào các nguyên tắc sau:

          - Dựa vào đặc điểm chính của đối tượng để đặt tên, cách này thường dùng cho các loại địa danh chỉ địa hình tự nhiên và công trình xây dựng, ít áp dụng cho các loại địa danh hành chính và địa danh vùng. Goi theo hình dáng của đối tượng như các địa danh như truông Bà Đờn, ẹo Bà Nho, gọi theo kích thước của đối tượng như: chợ Lớn, gọi theo màu sắc của đối tượng như: Cù Lao Xanh, núi Xanh…, gọi theo kiến trúc và cấu trúc của đối tượng như cầu Đôi, tháp Đôi, ..., gọi theo các loại cây trồng, đặc sản:….

          - Dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ với đối tượng để gọi, gọi theo vị trí của đối tượng so với các đối tượng khác: Cầu Thanh Trực 1, 2, 3, (An Nhơn, Phù Cát), Trà Câu 1, 2 (An nhơn); Gọi theo tên gọi người nổi tiếng trong vùng: Ngã ba Ông Thọ, cây xăng Ông Tề, ngã ba Ông Đô; gọi theo biến cố lịch sử hoặc nhân danh có liên quan đến đối tượng: Đường 31 tháng 3, Đại lộ Nguyễn Tất Thành, đường Lê Thánh Tôn…, gọi tên theo công trình xây dựng ở đó như Hồ Định Bình, khu công nghiệp Phú Tài

          - Ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên: Cách này thường dùng để đặt tên các địa danh hành chính, nhất là tên xã, thôn. Hầu hết đều mang ý nghĩa tốt đẹp như: Mỹ, Nhơn, Cát, An, Cẩm, Nghĩa, …như Mỹ Thành, Mỹ Thọ, Mỹ Cát, Mỹ Trinh (Phù Mỹ), Nhơn Châu, Nhơn Phú, …

          - Dùng số đếm hoặc chữ cái để đặt tên: khu vực I, khu vực II, tổ dân phố 4, 5, 6, …

          2.1.1.3. Sự biến đổi của địa danh

          Địa danh ở một nơi thường biểu thị cho đặc điểm từng địa phương nên bao giờ cũng mang theo tình yêu quê hương, long tự hào dân tộc. Do đó, địa danh thường được giữ lại khá bền vững trong tâm tư tình cảm của người dân địa phương, tức là có tính bảo lưu mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử, địa danh vẫn có những thay đổi đáng kể làm cho việc nghiên cứu trở nên khó khăn, phức tạp nếu không nắm rõ các quy luật đó.

          Sự thay đổi của địa danh thường do nhiều nguyên nhân khác nhau, có khi rất phức tạp. Dưới đây là một số nguyên nhân chủ yếu:

          - Sự phát triển hoặc lệch chuẩn của ngôn ngữ: Dân tộc ta có lịch sử phát triển lâu dài. Phù hợp với quá trình này, ngôn ngữ cũng tự thay đổi theo, ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn… như Hoài Nhân thành Hoài Nhơn, Quy Nhân thành Quy Nhơn, Tân Quan thành Tam Quan…

Cải cách hành chính trong lịch sử: Trong quá trình phát triển của dân tộc, nói riêng cũng như toàn thể nhân loại nói chung đều có xu hướng tiến hóa… do đó  các triều đại sau thường muốn cải cách xã hội cho phù hợp với điều kiện lịch sử của đương thời. Chẳng hạn, Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn thuộc dinh Quảng Nam. Năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần, đã đổi tên phủ Quy Nhơn thành phủ Quy Ninh…

          - Húy, hèm: Địa danh nước ta cũng phải thay đổi do kỵ húy hay tục hèm. Húy là sự kiêng kỵ không được nói tên các vua hay chúa đương thời, cùng các nhân vật trong Hoàng tộc có khi ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc. Hèm là tục kiêng khem gọi tên các thần Thành hoàng của làng… do đó, ở mỗi thời đại mỗi địa danh phải thay đổi địa phương sao cho thích hợp với nguyện vọng của vua chúa. Nếu không sẽ bị phủ nhận, nhất là với các thí sinh trong các kỳ thi. Ví dụ

          - Nguyện vọng và ý chí của nhân dân: Nhân dân ở một vùng bao giờ cũng gắn bó với địa phương mình, tự hào về mảnh đất nơi mình sinh ra và tồn tại nên thường mong muốn cho địa phương mình có được cuộc sống tốt đẹp và bình yên do vậy họ có nguyện vọng đổi trên địa phương mình cho phù hợp với ý muốn tốt đẹp của họ.Ví dụ

2.1.1.4. Các quy luật chuyển hóa địa danh của Bình Định

          a. Địa danh nước ta nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng thì đều rất phức tạp, song nhìn chung vẫn thường biến đổi theo những quy luật nhất định. Những quy luật này thường rất phong phú, dưới đây là một số quy luật chủ yếu:

          - Địa danh thường biến đổi từ đơn giản đến phức tạp: Địa danh lúc đầu thường có thể rất đơn giản, cụ thể nhưng dần biến đổi theo quy luật phát triển của ngôn ngữ, văn tự. Quy luật này khá phổ biến trên thế giới, trong đó có nước ta. Cụ thể, nó thường chuyển hóa trong nội bộ một loại địa danh như các địa danh chỉ địa hình thiên nhiên…

          - Địa danh thường được rút gọn cho dễ đọc dễ nhớ: Lúc đầu một số địa danh có thể khá dài, song nhân dân thường có xu hướng rút gọn lại cho việc sử dụng được thuận tiện hơn. Chẳng hạn một số địa danh ở vùng dân tộc chăm cũng thay đổi như sau: Cri banoi thành Thị Nại, cửa Hà La được rút gọn từ Hà La Hải Tấn…

          - Địa danh thường biến đổi theo ngôn ngữ - lịch sử: Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, ngôn ngữ cũng có sự thay đổi nên địa danh cũng thay đổi theo là điều đương nhiên. Sự biến đổi thường xảy ra trong cả phụ âm lẫn nguyên âm, chẳng hạn như âm Nhân thành âm Nhơn, trong địa danh Quy Nhân thành Quy Nhơn.

          - Địa danh biến đổi theo ý nguyện của nhân dân: Địa danh là tên gọi đặc trưng cho một vùng, song nhiều khi nhân dân lại muốn biến đổi cho phù hợp với ý nguyện của mình hơn nữa. Về phương diện ý nghĩa, địa danh mới thường mang những ý nghĩa tốt đẹp hơn như: Phú Hòa, Phú Thứ, Hoài Nhơn, An Lão, Hoài Phú…

          - Địa danh thường tồn tại ở dạng song ngữ: Đa số các địa danh cổ nước ta đặc biệt là tên các làng xã thường tồn tại ở dạng song ngữ, tức là ngoài tên nôm cổ, lại còn một tên chữ theo âm Hán Việt. Nắm được quy luật này thì việc tìm hiểu địa danh sẽ đạt được kết quả chính xác hơn.

b. Địa danh thế giới đã phức tạp thì tính chất này còn thể hiện ở nước ta. Đó là một dân tộc có lịch sử phát triển lâu dài, một quốc gia đa dân tộc. Đồng thời chịu ảnh hưởng của yếu tố ngoại lai. Trong quá trình phát triển của dân tộc, các điều kiện hành chính cũng như kinh tế xã hội đã làm cho ngôn ngữ biến đổi, và do đó địa danh cũng phải biến đổi theo. Bình Định cũng mang đầy đủ những đặc điểm đó của địa danh Việt Nam.

Ngoài ra thì với những địa danh như tên của các sông, núi thường được gọi theo từng đoạn khác nhau dễ gây nên những hiện tượng nhầm lẫn. Đó là do sự hán chế về quá trình giao lưu kinh tế và văn hóa trước đây.

Một đặc điểm khác trong đia danh Việt Nam là đôi khi cũng có hiện tượng trùng tên dễ gây nhầm lẫn. Hiện tượng này cũng có thể xảy ra ở cùng một hiện tượng địa lý hay các hiện tượng địa lý khác nhau: Địa danh nước ta lại bị phức tạp hóa do ngôn ngữ dân tộc, làm cho việc nghiên cứu phải tìm hiểu kỹ lưỡng. Ví dụ: Đồ Bàn, Chà Bàn…

Ngoài các ngôn ngữ nội bộ khá đa dạng, địa danh Việt Nam ở khu vực Nam Trung bộ nói chung và ở Bình Định nói riêng còn bị phức tạp hhơn nữa do ảnh hưởng bởi các nhân tố ngoại lai trực tiếp hay gián tiếp, có ý thức hay không có ý thức nữa.

Tóm lại địa danh Việt Nam thật phức tạp do quá trình phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc, của sự hòa nhập giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc; đồng  thời, lại chiu ảnh hưởng sâu sắc của yếu tố ngoại lai. Do đó, ngoài tính đặc thù của nó địa danh Việt Nam cũng chịu nhiều dấu vết của ngôn ngữ và địa danh của Đông Nam Á hay xa rộng hơn nữa.

2.2. Kết quả điều tra địa danh tỉnh Bình Định

2.1. Địa danh hành chính cấp huyện, xã

2.1.1. Bảng phân loại

Tỉnh Bình Định gồm một thành phố trực thuộc tỉnh Quy Nhơn và 10 huyện:

Cấp hành chính

Tên địa danh

Tổng số

Thành phố

    Quy Nhơn

1

Phường

    Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Văn Cừ, Đống Đa, Thị Nại, Hải Cảng, Ngô Mây, Ghềnh Ráng, Quang Trung, Nhơn Bình, Nhơn Phú, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu.

16

     An Dũng, An Hòa, An Dung, An Nghĩa, An Quang, An Tân, An Toàn, An Trung, An Vinh.

      Nhơn Thành, Nhơn Mỹ, Nhơn Hạnh, Nhơn Phong, Nhơn Hậu, Nhơn An, Nhơn Hưng, Nhơn Phúc, Nhơn Khánh, Nhơn Lộc, Nhơn Hòa, Nhơn Thọ, Nhơn Tân.

       Ân Tường Đông, Ân Tường Tây, Ân Hữu, Ân Đức, Ân Nghĩa, Ân Phong, Ân Hạnh, Ân Tín, Ân Hảo Đông, Ân Hải Tây, Bok Tới, Đăk Mang, Ân Sơn, Ân Mỹ.

       Hoài Sơn, Hoài Châu, Hoài Châu Bắc, Hoài Phú, Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam, Hoài Hảo, Hoài Thanh, Hoài Thanh Tây, Hoài Hương, Hoài Tân, Hoài Hải, Hoài Xuân, Hoài Mỹ, Hoài Đức.

       Cát Sơn, Cát Minh, Cát Tài, Cát Khánh, Cát Lâm, Cát Hanh, Cát Thành, Cát Hải, Cát Hiệp, Cát Trinh, Cát Nhơn, Cát Hưng, Cát Tường, Cát Tân, Cát Tiến, Cát Thắng, Cát Chánh.

        Mỹ An, Mỹ Cát, Mỹ Chánh, Mỹ Chánh Tây, Mỹ Châu, Mỹ Đức, Mỹ Hiệp, Mỹ Hòa, Mỹ Lộc, Mỹ Lợi, Mỹ Phong, Mỹ Quang, Mỹ Tài, Mỹ Thành, Mỹ Thọ, Mỹ Thắng, Mỹ Trinh.

        Bình Hòa, Bình Hiệp, Bình Nghi, Bình Tân, Bình Thành, Bình Thuận, Bình Tường, Tây An, Tây Bình, Tây Giang, Tây Phú, Tây Thuận, Tây Vinh, Tây Xuân, Vĩnh An.

        Phước An, Phước Hiệp, Phước Hòa, Phước Hưng, Phước Lộc, Phước Nghĩa, Phước Quang, Phước Sơn, Phước Thắng, Phước Thành, Phước Thuận.

        Canh Hiển, Canh Hiệp, Canh Hòa, Canh Liên, Canh Thuận, Canh Vinh.

        Vĩnh Hảo, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Hòa, Vĩnh Kim, Vĩnh Quang, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thịnh.

124

Thị trấn

         Bình Định, Đập Đá, An Lão, Tăng Bạt Hổ, Bồng Sơn, Tam Quan, Ngô Mây, Phù Mỹ, Bình Dương, Diêu Trì, Tuy Phước, Phú Phong, Vân Canh, Vĩnh Thạnh.

 

14

(Xem tiếp phần sau..)

Powered by Vnweblogs.com
Comments