BÌNH ĐỊNH THÁNG 3/1975.

đăng 19:22, 5 thg 4, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 10:31, 16 thg 9, 2014 ]
quynhoner » http://binhdinhffc.com

BÌNH ĐỊNH THÁNG 3/1975.

Chiến tranh là điều vô cùng kinh khủng. Không điều gì trên cõi đời này lại có thể mang đến những nỗi bất hạnh và tang thương như chiến tranh. Chiến tranh đã lùi xa trong quá khứ ít nhất cũng đã hơn 30 năm. Mặc dầu là thế, nhưng những nỗi đau của nó vẫn còn chồng chất và hiện diện trong từng gia đình, trong từng cá nhân, trong tâm trí của những con người đã từng chứng kiến và đi qua chiến tranh. Hình ảnh đứa bé chừng hơn một tuổi khóc, níu áo, bò lổm ngổm trên ngực người mẹ tìm vú. Người mẹ vừa chết bởi trận giao tranh ngay dốc Trung Thứ – Mỹ Chánh – Phù Mỹ. Tiếng khóc chơ vơ vào một buổi sớm mai, giữa một con đường tràn ngập người đi tản cư. Những bước chân nặng trĩu đi qua. Liệu tiếng khóc đó thấu được lòng ai ? Thân phận con người trong chiến tranh thật bé bỏng, kiếp người trong chiến tranh lờ mờ như làn sương mỏng …

Phóng to (kích thước thật: 1022 x 800)Hình ảnh
Một em bé bị trúng đạn chết trong chiến tranh ở Bình Định.

Ngày mồng 5 Tết Nhâm Thìn 2012.
Trở lại quê hương dịp Tết và khi từ nhà Restive Horse trở về. Tôi đi qua chiếc cầu chữ I, nhân chứng lịch sử một thời bão lửa đất Hưng Thạnh – Quy Nhơn. Tôi lại có ý định viết lại những gì mà mình đã từng cảm nhận những ngày tàn cuộc chiến ở đây. Hoàn toàn không có ý viết về chiến tranh. Vì nó quá kinh khủng. Chiến tranh là tiếng “ tắc cù “ trong đêm vắng, là thân người ngã xuống, là tiếng khóc than xé lòng…là sự chết chóc và hận thù chồng chất. Chiến tranh đã lùi xa trong quá khứ của khúc ruột miền Trung thân yêu. Tất cả đã lùi xa và lùi xa mãi mãi. Chỉ còn chút gì trong tâm tưởng của những con người đi qua nó. Duy nhất một điều thiêng liêng nhất không hề thay đổi : Bình Định vẫn là quê hương Bình Định. 
Năm 1975 cáo chung cho một cuộc chiến tranh. Một điểm chấm hết cho bao tiếng khóc động lòng. Phù Mỹ, Bồng Sơn, Tam Quan, Hoài Ân… những địa danh chất chồng những đau thương máu lửa.

Hình ảnh
Cảnh tránh đạn của người dân trong chiến tranh ( Ảnh : Kyoichi Sawada, Nhật Bản, phóng viên hãng thông tấn UPI.) Chụp tại Lộc Thượng- Bình Định- Nam Việt Nam 1965.


Hình ảnh

Ngày 30 tháng bảy năm 1966, Lộc Thượng, Nam Việt Nam -- nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer Kyoichi Sawada ( ngồi bên trái bức hình) giới thiệu bản in của bức ảnh được giải thưởng về sự lánh nạn của các thường dân khỏi ngôi làng bị đốt của họ với chính những đối tượng được chụp ảnh. Sawada đã mất năm ngày tìm kiếm để tìm thấy được 2 phụ nữ và con của họ đã xuất hiện trong các bức ảnh ấn tượng, giúp Sawada giành chiến thắng 3 giải thưởng nhiếp ảnh báo chí lớn.
(30 Jul 1966, Loc Thuong, South Vietnam --- 7/30/66-Loc Thuong, S. Vietnam- Pulitzer Prize-winning photographer Kyoichi Sawada (L) presents his prize-winning print of Vietnamese civilians escaping their burning village to the subjects of the photograph. Sawada searched for five days before finding the 2 women and their children who appeared in the dramatic picture, which helped Sawada win 3 major press photography awards.)
http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/3683355681/

Chuyện ngày giờ của một biến cố lịch sử trọng đại vốn là điều khó nói. Hãy còn đó những khoảng cách về thời gian trong các trang lịch sử. Ngày kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là ngày 30/4/1975 với quãng thời gian là 55 ngày đêm. Nhưng không một tài liệu nào ghi rõ ngày mở màn chiến dịch là ngày nào và ở đâu ? Ngày 31/3/1975 là ngày những chiến sĩ cách mạng tiến vào Quy Nhơn qua ngả Hưng Thạnh và Chợ Dinh . Còn việc ngày 31/3/1975 có được công nhận là ngày giải phóng Quy Nhơn hay không thì là chuyện khác. Tôi đã là người xa xứ.

37 năm trôi qua.

Một thế hệ đã trưởng thành “ tam thập lập thân”. Lứa tuổi chất chứa bao khát vọng, bao nhựa sống cùng ấp ủ những đam mê. Một thế hệ đang có những cống hiến rực rỡ nhất cho quê hương đất nước. Chiến tranh là gì ? Chỉ có trong tiểu thuyết, trong phim ảnh về chiến tranh. 

Tôi đã thực hiện được nhiều ước mơ của mình. Có những ước mơ mà có nằm mơ cũng không thấy, cũng đã làm được. Nhưng cái ước mơ cỏn con làm sao sống lại những năm tháng tuổi thơ, và một thời mơ mộng bên chiếc cầu chữ I bắc qua sông Hà Thanh là không thể làm được. Thời gian có chờ đợi hay ngưng lại cho ai đâu. 
Như chỉ là hôm qua chứ không là mấy mươi năm xa xứ. Lang thang tìm chút gì của dĩ vãng đã thành thơ và nhạc của cung lòng. Cuộc đời vốn như một hành trình. Bao điều của hiện tại, những ý tưởng cho ngày mai và trong một chút sâu lắng cũng ráng soi mói lục tìm những quá khứ xa xôi. 

Topic này viết để nhớ về những tháng ngày ở quê hương. Để nhận rõ hãy còn đâu đó tình yêu quê hương, tình yêu tiếng Nẫu và con người Bình Định. Như lời phiêu du nghe giữa dòng đời. Lắng nghe khúc hát xốn xang của đời phiêu bạt. 

BÌNH ĐỊNH ĐAU THƯƠNG !

Hình ảnh
Chiến thuật trực thăng vận của Mỹ tại Bồng Sơn (12/10/1966)

Hình ảnh
Tội cho các Cụ ở Bồng Sơn thời chiến tranh.(7/2/1966)

Hình ảnh
Tang thương đi vào mỗi gia đình không chừa một ai ! (Bồng Sơn 02/02/1966)

Hình ảnh
Các Cụ ở Phù Cát bị tình nghi theo Cách mạng ! ( 19/10/1966)

KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH !

Hình ảnh
Chiến tranh ! 
http://www.tin247.com/anh_chien_tranh_v ... 84757.html

Phóng to (kích thước thật: 720 x 540)Hình ảnh
Hòa bình ! ( http:// quangbomtruong - BinhDinhFFC )

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾN TRANH !

Không biết viết từ đâu và viết về điều gì khi nói về chiến tranh trên xứ sở Bình Định. Chỉ biết nghe tiếng súng nổ ì đùng mẹ ẵm chạy xuống hầm chứ không biết nó là ký hiệu của chiến tranh. Ngày gồng gánh nhau chạy giặc mới đến ngả ba An Lương thì bị chận lại. Một ông lính lấy cái nòng súng gạt cái nắp bầu sang một bên để coi bên trong là gì ? Chỉ có gạo ! Đi tiếp. Dọc đường từ Mỹ Chánh lên Bình Trị - Mỹ Quang lại gắp mấy lần chận nữa. Ngày đó đâu có biết ông lính làm gì mà đeo súng đạn thấy bắt ớn. Khẩu súng có cái lê thò ra ngoài nhọn hoắt.
Ở Bình Trị mấy ngày đêm nào cũng nghe súng nổ, cứ ôm chặt lấy mẹ không rời. Có bữa sợ quá tiểu ra quần ướt cả chiếu bị mẹ phát cho mấy phát vào mông. Mẹ bịt miệng chứ không cho khóc.
Thỉnh thoảng có bữa lại nhìn thấy người ta khiêng võng đi qua nhà sao nhiều thế ! Có cái thì cột chặt lại. Có cái thì mấy ông lính nằm trên đó la om sòm chửi bới ai đó. Ngay cầu Bình trị có mấy người chết bị lính đem ra bỏ ngay đầu cầu mình mẩy đen thui. Họ bỏ đến trưa ai đi qua lại cũng không dám nhìn. ( Khi lớn lên mới biết đó là những du kích hay bộ đội hy sinh hay cũng có thể là dân lành sống trong khu vực mất an nình bị quy kết là Việt Cộng ?)
Chán ngấy với cảnh như thế, cha tôi quyết định đưa cả gia đình vô Quy nhơn. Ông sợ nhất là cảnh con cái còn nhỏ nhìn thấy người chết nắm vất vưởng ngoài đường. Tôi nghe ông nói rằng “ Không biết bao giờ đến lượt gia đình mình ?”. Một sự ra đi trong vội vã với hai bàn tay trắng.

Đến Quy Nhơn gia đình ở trọ ở một gia đình người quen ở hóc bà bếp ngay dưới chân núi bà Hỏa. Sống được vài bữa thì bị lính tới hỏi thăm và giữa đêm bắt chủ nhà đi. Chính quyền nghi chứa chấp Cộng Sản ( Gia đình này có cha là cán bộ tập kết ra bắc ở An Mỹ ). Thời đó những gia đình ở các vùng chiến tranh vô Quy Nhơn hay bị gán cho cái tên “ Cộng Sản”. Cắp sách đến trường cũng bị mấy thằng lóc chóc trong lớp gọi là “ Cộng Sản con”. Khổ quá, có biết Cộng Sản là qai đâu. Tức quá, nghe đứa nào nói là bay vô chơi liền. Cứ vài bữa thì đánh lộn một lần. Có những lúc bị chúng bê hội đồng đánh te tua mặt sưng bầm tím. Sau này, Thầy Phan Minh Phước biết được nguồn gốc vấn đề, đứa nào nói nữa bị Thầy phạt rất nặng. May quá thoát nạn .

Mùa hè đỏ lửa 1972.
Tôi bắt đầu để ý tới chiến tranh do những điều xảy ra ở trước mắt mình. Ngày nào đi học về cũng thấy cái quan tài phủ lá cờ của chính quyền Sài Gòn để ngay trên sân nhà thờ Quy Đức. Lại một người con, người chồng , người cha, người bạn giã từ cõi thế. Lại một gia đình mất con, một người vợ trẻ mất chồng và những trẻ thơ mất cha. Những phụ nữ chưa đầy tuổi hai mươi và đứa bé chưa biết đi trên đầu mang tang trắng và trở thành “ Cô nhi góa phụ”. Đời phụ nữ lấy chồng chiến tranh như là một canh bạc. Không biết lâu hay mau vầng khăn trắng chít trên đầu.
Rồi những anh em trong xóm bị mất tích hay bị Cách mạng bắt làm tù binh. Những hồ sơ đó các chú, các bác đều nhờ tôi đọc cho nghe để biết “người ta nói cái gì? ”. Những phiên hiệu đơn vị, KBC ( khu bưu chính – hòm thư bây giờ) lập đi lập lại trong đầu tôi như một bản cửu chương hay những hằng đẳng thức toán học. Khốn khổ là hồi đó các cụ đâu có biết chữ, cứ nhờ viết cho có cái đơn. Rồi cha con tôi cùng người đó xuống gặp Dân biểu hạ nghị viện ( Đại biểu Quốc Hội bây giờ ) tỉnh Bình Định là ông Nguyễn Hữu Thời để nhờ giúp đỡ. Khi có kết quả thì chú Xuân thư ký nhà ở trại Phật giáo ( nay là khu vực 3 Phường Đống Đa, gần cầu chữ I ) đem lên nhà tôi. Ông Nguyễn Hữu Thời là người cùng quê với cha tôi, nên mọi việc đều giải quyết nhanh chóng.

Khi ký hiệp định Paris tháng 1/1973 thì có điều khoản trao trả tù binh giữa Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và quân đội Sài Gòn. Buổi trưa đi học về đã thấy nhà đông người. Mọi người đang chờ tôi về để đọc danh sách trao trả tù binh ở bờ sông Thạch Hãn – Quảng Trị. Có người vui khi nghe đến tên con mình, chồng mình, cũng có người buồn lặng lẽ ra đi khi không thấy có tên người thân trên báo Độc Lập ra sáng thứ 5 hay tờ Tia Sáng.

Hình ảnh

Bác Nguyễn Thị Bình Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ CMLTCHMNVN đặt bút kỳ Hiệp định Paris năm 1973. ( Bác Bình hồi đó xinh ghê ! )
http://www.honda67.vn/forum/showthread. ... -Nam/page3

Tết năm 1973 hai bên đình chiến mấy ngày tết Nguyên Đán. Khi ra đến xóm Lương Nông, ngay bờ hai cổng ( nay là bờ tràn 1) thì đã gặp một toán lính nghĩa quân khiêng mấy người lính vừa mới chết để ngay cổng bờ ông Hộ. Theo quy định của Hiệp định Paris thì ngày đình chiến bên nào ở đâu thì ở đó, không xâm phạm đất của nhau. Vùng Đồng Ông Cha ( nay là khu vực 4 phường Nhơn Bình ) trên mấy đọt dừa cao đều xuất hiện cờ của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam nửa xanh nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng phất phới bay. Cờ bay phần phật và những bẹ dừa đầy tổ dồng dộc đung đưa trong gió như là biểu hiện của hòa bình. Nhưng lại có chuyện ban đêm lính nghĩa quân lén lấy cờ của Cách mạng nên lại phải khiêng nhau về.

Hình ảnh
"Thoát khỏi ngục tù" hình ảnh trao đổi tù binh tại sông Thạch Hãn - Quảng Trị

Hình ảnh
Hai người lính ở hai chiến tuyến tại Quảng Trị ngày đình chiến năm 1973.
“Giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà chỉ có dân tộc VN chúng ta thắng đế quốc Mỹ”.
( Tướng Trần Văn Trà)

http://khonggiantre.com/tam-anh-du-bao-ngay-hoa-binh/

Trước tết Quý Sửu 1973 mấy ngày.
Hai cha con tôi đang lom khom dẩy mả ở quê thì gặp một đơn vị lính đi càn từ Mỹ Chánh xuống đến Cát Minh. Hai cha con bị mấy ông lính bắt dẫn đi và tập trung ngay cầu An Mỹ hiện nay. Không biết có nghi ngờ gì không, nhưng họ canh gác rất kỹ. Nghe mấy ông lính gọi điện thì họ đang kêu xe chở mấy người họ bắt được về đơn vị của họ ở Phù Mỹ ( Trung đoàn 41 Sư đoàn 22 Bộ binh đóng ở Phù Mỹ ). Tất cả mọi người đều xanh mặt và lo lắng, có thể không được ăn tết ở nhà. Đang sợ mất hồn vía thì tôi thấy từ xa một người quen quen. Khi tới gần tôi mới nhận ra đó là anh trai của Thầy dạy tôi ở trường Nguyễn Trường Tộ, chỉ huy cuộc hành quân.
Tôi nói với cha tôi đó là anh trai của Thầy dạy tôi. Cha tôi lại nói chuyện với người chỉ huy. Ông gọi tôi lại và hỏi mấy câu về gia đình của ông. Trong lúc tôi đang trả lời ông các câu hỏi, có một anh lính đứng gần đó nhận ra tôi và nói to “ Thằng này nó hay đến nhà Thiếu tá chơi và hái trứng cá nè !”.
Thế là cha con tôi thoát !

Hình ảnh
Quy Nhơn 1965.

Ông già, phụ nữ, con nít có liên quan gì đến chiến tranh. Họ có cầm súng đâu. Thế mà chỉ cần động tĩnh nhỏ là " bùm, bùm "

CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾC HẦM HƯNG THẠNH.

Mùa hè năm 1971 giữa mùa gió Nam cồ.
Mới sáng mà gió đã thổi mạnh từ hướng Tây về. Từ Cầu Đôi ra Lương Nông nhiều khi có cảm khác như muốn rời mặt đất bay lên không trung. Ra đến bờ nhà ông Hộ cha con tôi gặp mấy anh lính “xây dựng nông thôn” mặc đồ đen vác súng Carbin đi vào. Họ không còn lạ gì với hai cha con người đi chài này. Ngày nào cũng gặp trên con đường đê.
Ngay bờ hai cổng ( nay là bờ tràn 1) cha tôi tháo chài và quăng những chài đầu tiên để thăm dò tình hình. Phía ngoài đó chừng vài trăm thước có một cái đồn lính ( nay là một cơ sở của trường Tiểu học) do lính nghĩa quân của xã Phước Hậu trấn giữ. Mấy ông lính nhiều khi làm biếng phải qua 8 giờ mấy ổng mới tháo lựu đạn hay mìn gài ban đêm để phòng thủ. Cha tôi đã một lần vấp phải mìn chiếu sáng ngay góc nền nhà thờ Lương Nông, suýt chút nữa thì cũng đã lãnh trọn những loạt đạn đại liên bắn ra từ đồn lính.
Khi thấy mấy anh lính nghĩa quân vác súng M16 đi từ ngoài vào thì là đường đã an toàn. Cha tôi vội kéo chài và đi ra hướng bắc bờ đê.
Con đường đê to lớn hiện nay được xây dựng năm 1973 sau hiệp định đình chiến. Trước kia con đê này ngoằn ngoèo cơ bản là ranh giới giữa các bờ cá. Duy nhất chỉ có xóm nhà ông Hộ là có người ở ( xóm nhà này cách đường 19 và Cầu Đôi chừng 500m) còn phía sau không có dân ở. Thỉnh thoảng chỉ có mấy người đi câu cá, đập hàu, cào dộp kiếm sống dọc theo sông Lương Nông. Như vậy nếu tính từ cầu Đôi đi ra hướng Bắc chừng hơn cây số thì đã là vùng mất an ninh. Đồng muối ông Cha ( nay là khu vực 4 phường Nhơn Bình) ngay cả lính nghĩa quân Phước Hậu cũng không dám ra khu vực này.
Ao bà Bảy Bèo ngay cạnh đồn lính là nơi rất nhiều cá Dìa. Thường thường khi ra đến khu vực này cha tôi thường ghé xuống chài. Chuyện kiếm vài chục con cá Dìa bằng bàn tay không phải là chuyện khó. Cơ bản là cha tôi ra bờ ông Trấp hay bờ ông A. Hai bờ này nắm kế nhau. Bờ ông A nằm ngay con đê và bờ ông Trấp nối bờ ông A đến nhánh sông ba. Bờ ông Trấp là nơi có tôm cỏ nhiều nhất, do địa hình thích hợp gần sông nên tôm hầu như có sẵn. Trung bình cứ gần 10 con thì được 1kg. Những con tôm cỏ màu đỏ gạch bằng cổ tay trẻ lên ba nhìn rất thích. Theo thông lệ thì chài xong bờ ông Trấp tôi phải kiếm cái bao cát Đại Hàn, loại bao mà lính nghĩa quân hay đổ cát vào để làm công sự, bỏ cá vào để mang về cho mẹ tôi đi chợ bán. Cá thì bán ở chợ Tháp Đôi. Tôm cỏ thì mang xuống chợ Cây Me gần Sở Điện Lực ngày nay để cân cho mối lái đông lạnh chuyển đi Sài Gòn bằng đường hàng không. Với cái chài trên vai, cha tôi đã nuôi mười đứa con một cách nhẹ nhàng. Vác chài đi coi như có gạo, có tiền.
Nhưng ở đây có một điều cần nói thêm. Ngày đó, những người làm cá không ai dám vượt qua bờ tràn 1 Lương Nông hiện nay. Chuyện đơn giản chỉ vì họ sợ Cộng Sản. Hỏi họ Cộng Sản là ai ? Họ cũng chỉ nói mập mờ. Vì thế phải nói khu vực này cá tôm còn nhiều hơn trong bờ cá hiện nay. Bà con đi chài cứ thấy cha con tôi mang cá tôm về mà phát thèm. Nhưng họ không bao giờ dám theo chân cha tôi.
Cha tôi cả một đời người chỉ biết đi chài và đánh lưới. Ông không bao giờ để ý tới chuyện xã hội hay chính thể gì gì. Ông đâu có lạ gì với từ Cộng Sản và những người Cộng Sản hay Việt Cộng như cách nói thời đó. Ông đã từng chở cán bộ địa phương tập kết ra Bắc. Sau này nhiều người trở lại miền nam hoạt động cũng gặp ông Ở Núi Bà – Cát Hải xin muối xin gạo khi ông đi bán muối vùng Gò Bồi. Trong số các vị đó có người sau này là Chủ tịch UBND Tỉnh Bình Định. Nhiều lúc, khi mang cá về cho mẹ đi chợ, tôi cũng gặp mấy anh em du kích ( hay chủ lực cũng không rõ) treo võng nằm tòn ten khắp khu vực Hưng Thạnh từ giáp cầu Nhơn Hội hiện nay đến Lương Nông. Cũng có mấy lần anh em xin ít cá hay tôm để làm thức ăn. Nhìn phía sau lưng tôi còn thấy cả đầu súng nhô lên. Biết là biết vậy không bao giờ nói với ai những điều đã thấy như cha tôi căn dặn.

CHUYỆN CHIẾC HẦM.

Ngày 18/3/2012 cùng với @nguyentoans từ Phước Thuận về Quy Nhơn theo dọc đê Đông Định. Tôi cố gắng tìm lại vị trí chiếc hầm bí mật mà cha con tôi đã từng gặp ở thời điểm năm 1971. Nhưng khi hỏi anh Chín Dung ở Đông Định, người đã từng đi chài với tôi sau giải phóng, thì anh nói vị trí đó nay đã không còn. Lý do là có trận lụt lớn cách đây mấy năm đã phá đoạn đê đó ( đoạn từ nhà xây của ông Trấp ra Đông Định). Sau này khi làm mới con đê người ta đã phóng thẳng con đường và chiếc hầm đó coi như không còn dấu tích.
Cũng phải thôi, đã 41 năm rồi còn gì. Có gì tồn tại mãi với thời gian và bao đổi thay của thời cuộc.


Sáng hôm ấy, có lẽ là tháng 2 Âm lịch vì tôi còn nhớ là nước ròng buổi sáng sớm và bắt đầu mùa sứa. Trong chu kỳ của thủy triều thì chỉ có tháng 2 và tháng 8 Âm lịch là có 3 con nước. Trong đó có con nước ròng vào sáng sớm.
Khi vượt qua nhà ông Trấp ngay cái cua của bờ đê, cha tôi thấy một bầy cá kiền, cá đấu vẫy nước. Cha tôi nhanh chóng thu cái chài và băng qua hàng đước giáp đê để chận đầu bầy cá đang giỡn. Lúc đó, tôi còn nhỏ nên phải bò từ từ xuống bờ đê. Cha tôi vãi mấy chài và bắt được khoảng hơn 10 chục con cá kiền, cá đấu cầu ( loại cá đấu đầu to vảy nhỏ xíu). Hai cha con đang loay hoay bỏ cá vào cái bao cát Đại Hàn để tôi mang về đi chợ. Thình lình có hai anh thanh niên tới nói với cha tôi là có người cần gặp ở mé bờ đê. Tôi không được đi theo nên sợ quá bật khóc. Một anh thanh niên dẫn tôi vào trong bụi mắm ngồi chờ. Cha tôi đi khuất vào trong hàng đước rậm. Anh thanh niên vừa ngồi canh tôi vừa cảnh giới trên đường đê coi có ai đi ra hay không. Cặp mắt anh vừa nhìn tôi vừa nhìn lên mặt đê. Chừng nửa tiếng đồng hồ sau thì cha tôi trở lại. Ông không nói gì và vội vã cuống chài và leo lên mặt đê. Nếu cha con tôi đi theo đê vào xóm Lương Nông thì thế nào cũng gặp lính. Ông dẫn tôi băng đồng về hướng Tây Định vì ở hướng đó có một nhóm người đang cắt lúa. Từ đó cha con tôi men theo sông chợ Dinh để vào xóm nhà khu gia binh ( nhà cho vợ con lính ở, nay là công tư vật tư Nông nghiệp tỉnh). Câu chuyện đó cha tôi không bao giờ kể lại cho gia đình nghe, còn tôi thì còn quá nhỏ không để ý gì về chuyện đó.
Từ đó về sau cha tôi vẫn thường ra đó chài nhưng đều né cái vị trí của cái hầm chừng vài chục mét.
Năm 1973 hiệp định Paris được ký kết. Chính quyền Sài Gòn mở con đường từ Cầu Đôi đi ra rộng hơn để dễ bề quản lý tình hình anh ninh. Do con đường đã được mở nên dân làm cá bắt đầu đi ra sâu hơn. Có người ra đến đồng muối ông Cha để bắt ốc, đập hàu…
Mùa gió nam năm 1975.
Hai cha con tôi bám theo vực sâu bờ bắc sông Hà Thanh để chài. Lúc này tôi đã lớn cũng đã bắt đầu đi chài chứ không còn lẻo đẻo theo cha lượm cá nữa. Đây là đoạn nước sâu, nước chảy xiết cá kiền hay men theo vực sâu đi ngược dóng nước. Trong khi chài đuổi theo bầy cá. Tôi bất chợt nhìn lên chiếc cầu chữ I ngày đó là chiếc cầu bằng gỗ dầu đen. Một ông cán bộ mặc bộ đồ Tô Châu đứng trên thành cầu nhìn hai cha con tôi. Khi cha tôi kéo cá vào sát bờ, người cán bộ xoắn quần lội ra chỗ giữa dòng cha con tôi đang đứng. Cả cha tôi và người cán bộ nhận ra nhau. Dù quần áo cha tôi ướt át nhưng vị cán bộ vẫn ung dung đưa tay ra trước, bắt tay với cha tôi.
Ông chính là vị cán bộ năm xưa mà cha tôi đã gặp. Ông niềm nở hỏi thăm tình hình gia đình tôi. Ông quay sang nhìn tôi và nói “ Thằng này nhanh lớn dữ ?” Ông chỉ nhà ông là cái nhà trên cùng phía trên đầu cầu bên trái hướng Hưng Thạnh. Ông khẩn khoản mới cha tôi lên nhà ông uống nước. Thì ra nhà ông là nhà mà chúng tôi khi đi kéo lưới ngao hay lên ngồi nghỉ vì trước nhà có mấy cây dừa.
Thỉnh thoảng những năm sau này do đã quen thân, cha con tôi mỗi lần chài trước nhà của ông đều ghé nhà uống nước. Gia đình ông cũng có nhiều mất mát trong chiến tranh. Ông có một con trai là Liệt sĩ an ninh khi đánh vào Quy Nhơn Tết Mậu Thân năm 1968.
Sau năm 1975 mọi con người nơi đây trở về với cuộc sống bình thường. Rất nhiều thanh niên ở đây trở thành những chiến sĩ Công an nhân dân vì trước đây họ là chiến sĩ an ninh.Vào từng nhà đều thấy bằng Tổ Quốc Ghi Công treo trên tường. Tất cả đều ghi là những liệt sĩ này đều là chiến sĩ an ninh. Nhiều gia đình được tặng Bằng Gia Đình Vẻ Vang chứng nhận những hy sinh cống hiến cho Tổ Quốc những đứa con yêu quý của mình.

Phóng to (kích thước thật: 600 x 800)Hình ảnh
Liệt sĩ Nguyễn Văn Bùng một trong ba Liệt sĩ hy sinh trong trận đánh vào Đài Phát Thanh Quy Nhơn Tết Mậu Thân năm 1968( nay là Sở Tài Chính tỉnh Bình Định) ( ảnh của gia đình liệt sĩ cung cấp)

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh
Bằng Tổ Quốc Ghi Công ( ảnh của gia đình Liệt sĩ)

Hưng Thạnh là mảnh đất có nhiều gia đình, có những phụ nữ lặng lẽ âm thầm nuôi giấu cán bộ. Những thân phận bị roi đòn, tra tấn suốt một thời gian dài. Chính mảnh đất này đã sinh ra những người con trai, con gái hy sinh tuổi xuân của mình trong giai đoạn khốc liệt nhất của chiến tranh.

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh

Bằng khen của mẹ Liệt sĩ Bùng.

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh

Bảng Gia Đình Vẻ Vang của Nhà Nước tặng Gia đình Liệt sĩ Bùng.

QUY NHƠN NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG 3/1975.

Một thành phố yên bình bỗng trở nên hỗn loạn những ngày cuối tháng 3. Từ những tin đồn và những lời tuyên truyền kinh khủng về quân giải phóng, về những người Cộng sản mà người dân hoang mang đến tột cùng. Cũng không trách gì người dân, vì đa số họ có biết Cộng Sàn là ai, họ là những người như thế nào đâu. Trong tâm trí họ Cộng Sản là tàn sát, là chết chóc tang thương. Họ đâu biết rằng Cộng Sản là những người quanh họ, đang sống cùng họ và có khi là người thân của họ. Một bộ máy tuyên truyền chiến tranh tâm lý của chính quyền Sài Gòn phần nào đã đạt thành công.
Từ ngày 20/3/1975 các công sở vắng người đi làm. Nhà trường cấp giấy Chứng chỉ học trình cho học sinh từ ngày 24/3. Có thể nói Quy Nhơn những ngày ấy đã bắt đầu rơi vào tình trạng không có chính quyền. Làn sóng di tản đang đến hồi cao trào tột đỉnh.
Ngày 28/3 tôi theo một gia đình vào Quân y viện Quy Nhơn để nhận xác của một thằng bạn học cùng lớp. Nó đã mượn khai sinh của người khác để đăng lính. Trong những ngày nó huấn luyện Phù Cát gia đình không hề hay biết gì. Mẹ nó khóc ngày khóc đêm cầu trời khấn Phật cho nó trở về. Sau khi huấn luyện xong nó được bổ sung về Tiều đoàn 201 ĐPQ của Tiểu khu Bình Định ( như Tỉnh đội bây giờ ). Trong khi đi mở đường từ Mỹ Tài về An Lương - Mỹ Chánh nó đã bị các du kích của xã Mỹ Tài phục kích.
Quân y viện Quy Nhơn la liệt lính bị thương từ các nơi đưa về nằm đầy ở các hành lang. Những tiếng rên la thảm thiết, những tiếng chửi thề văng tục ầm vang cả bệnh viện. Đội ngũ Bác sĩ, nhân viên của bệnh viện cũng đã theo gia đình đi di tản. 
Tôi và cha nó bước vào phòng lạnh. Phải đi lùng sục một lát mới thấy xác nó. Vì thật ra cha nó và tôi cũng không biết nó đi lính với cái tên gì. Nó nằm lặng lẽ im lìm trong cái vỏ bọc nhựa màu trắng. Gương mặt trắng bệch và mũi của nó một dòng máu nhỏ cứ rỉ ra.
Theo thông lệ thì Quân y viện sẽ cho xe và lính hộ tống về đến nhà. Nhưng ở thời điểm loạn lạc thì làm gì có chuyện đó. Một chuyến xe lam ba bánh chở quan tài nó về phường Trung Thiện ( Đống Đa bây giờ ).
Nó được chôn cất ở chân núi bà Hỏa và ngày hôm sau gia đình nó cũng đã di tản vào Nha Trang.
Khắp các hang củng ngõ hẻm, các bà vợ lính ôm con lo lắng chập chờn. Xung quanh người ta đua nhau đi di tản mà chồng mình thì chưa thấy về. Họ cứ lo là khi Cộng Sản đến sẽ giết chết họ và con cái. Cộng sản sẽ rút móng tay để dài …Cộng Sản sẽ….Cộng Sản sẽ…và nói chung hàng loạt cảnh thời Trung cổ họ truyền tụng nhau nghe mà phát khiếp.
Sáng ngày 30/3 mấy anh lính của tiểu đoàn 207 ĐPQ đóng trên núi Một trốn xuống nhà tôi để xin đồ dân sự mặc về nhà. Núi Một ngày đó là Bộ chỉ huy của Chi khu Nhơn Định ( tương đương cấp Quận ) và là hậu cứ của Đại đội 108 Trinh sát của Tiểu khu. Cha tôi có hỏi thăm tình hình và biết rằng nhiều đơn vị Địa phương quân và Nghĩa quân đang dần dần tan rã. Cha tôi cũng có nói với mấy anh lính là cứ về nhà với vợ con, cha mẹ. Nếu có đi di tản thì đi còn không thì cứ ở lại lánh về các vùng quê cho an toàn. Cộng Sản cũng là người Việt Nam như mình. Không có gì đâu mà sợ. Nói là nói vậy chứ cha mẹ tôi lòng như lửa đốt vì các anh trai của tôi cũng đang lưu lạc nơi nào không có tin tức.

Ngày 31/3/1975.

Những đoàn xe chỏ người di tản nối đuôi nhau tiến về hướng Phú Tài. Tại sân nhà thờ Quy Đức nhiều chiếc xe đến đậu đầy sân để chở người đi. Đa số là xe ben chở cát (gọi là xe cát) và xe ba lua. Vài chục gia đình với hàng trăm con người nhồi nhét trong thùng xe. Tiếng gọi nhau í ới, ồn ào tiếng la khóc của trẻ con tạo thành một âm thanh hỗn độn.
Sáng hôm đó cha con tôi vẫn vác chài đi làm. Mẹ tôi không cho đi vì thấy chợ Tháp Đôi vắng người đi chợ đã nhiều. Nhưng cha tôi thì lại nghĩ khác. Không lẽ Quy Nhơn không còn một ai. Nói xong. Cha con tôi vác chài ra đi.
Hành trình cũng như mọi ngày quanh quẩn vùng Hưng Thạnh – Lương Nông. Có một điều bất thường mà tôi không hề để ý, dọc theo sông Lương Nông từ bờ tràn đến cầu 2 mấy người thanh niên chừng 18, 20 tuổi đánh lưới bén khá nhiều. Nẫu cứ nói là nay có ai ăn đâu mà cha con ông đi chài.

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)
Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh

Cảnh chụp ngả tư sông Lương Nông. Trưa ngày 31/3/1975 một nhóm anh em quân giải phóng đã chuyển vũ khí qua ngả này.

Đến trưa, khi bìm bịp từ ngoài biển bay vào kêu vang cả một vùng. Cha tôi bảo cuốn và giặt chài về. Đến đầu cầu 2 tôi thấy mấy anh thanh niên người nào cũng có chiếc sõng lưới gõ. Không biết trên đó họ chở gì mà be xuống đã lấp lém mé nước, chứng tỏ họ chở thứ gì khá nặng. Thấy cha con tôi họ lẩn hơi xa xa chiếc cầu. Có lẽ cha tôi là người tinh ý, ông biết chắc họ chở gì nên ông không đi theo đường từ cầu 2 vô cầu chữ I ( quanh đường viền bờ cá của @Restive Horse) mà ông lại vòng lên hướng sông Lương Nông để về ngả đồng muối. Khi đến ngả ba sông, cha con tôi cũng lại thấy mấy anh đánh lưới gõ cũng đang kéo những chiếc sõng gõ và trên sõng họ chất mấy cành mắm.


Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh

Đoạn sông giữa bờ ông Hộ và đồng muối. Nơi mấy anh du kích dùng sõng lưới gõ chở vũ khí vào đánh Quy Nhơn trưa 31/3/1975

Cha tôi nhanh chân lội băng qua đồng muối và lội qua sông để về nhà. Đến chân mỏm núi Một tôi thầy có mấy anh thanh niên đang leo từ mỏm đá ngay cuối mương nước gần nhà ông Tố. Thực ra, trước kia khi lính còn ở, dân không bao giờ dám bén mảng đến gần hay leo lên bất cứ vị trí nào của chân núi Một. Thấy tôi đến gần , họ mỉm cười và đi vào đám rau muống gần đó. 

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh
Đuôi núi Một giáp sông Hà Thanh. Một toán quân giải phóng đột nhập Núi Một.

Sau giải phóng, tôi gặp lại người thanh niên này mang súng AK và đứng gác ở cầu Đôi. Trong một lần tôi chài đám cá Dìa ở chân cầu, anh đến hỏi thăm. Tôi chỉ ngờ ngợ nhưng không dám hỏi anh điều gì. Năm 1977 tôi thấy anh mang sắc phục của ngành Công an ( ka ki vàng) và công tác ở đồn Công an phường Trần Hưng Đạo ở chỗ cây xăng gần bến xe cũ.

Trời tháng 3 nắng chang chang, từng đoàn xe nối đuôi nhau chạy. Hai bên đầu cầu lính gác cũng không còn. Hình như sự vội vã và hốt hoảng đều hiện rõ trên gương mặt của mỗi người.Trong giớ phút hoảng loạn gia đình nào cũng còn thiếu những người thân. Cha mẹ mong ngóng con. Những người vợ bế con ngóng chồng. Không một chuyến xe nào trở về Quy Nhơn chiều hôm ấy. Chỉ có những chuyến xe hối hả chạy vào hướng Nam.

Buổi trưa, tôi mang hộ hành lý cho mấy gia đình trong xóm ra ngoài đường để vào Sài Gòn. Khi ra đến cổng của trường Tiểu học Đống Đa hiện nay, tôi nghe một loạt súng nổ trước mặt mình và thấy một ông đứng tuổi hớt hải chạy vào trong xóm. Tôi lựng khựng không muốn đi nữa, nhưng đây là gia đình của “ người con gái ấy” nên cũng ráng đi với bộ mặt xanh như tàu lá chuối.
Một người lính tiểu đoàn 209 ĐPQ đã bắn hù ông tài xế chiếc xe ba lua khi không muốn chở gia đình vợ con của ông. Người tài xế bỏ chạy trốn, những người trên xe quay sang năn nỉ ông và chấp thuận cho gia đình ông có 5 nhân khẩu đi cùng.
Tôi trở về nhà và thấy gia đình tôi cũng đã chuẩn bị. Gần mười gia đình vợ con của lính trong xóm năn nỉ cha tôi cho theo cùng. Không còn con đường nào khác cha mẹ tôi đồng ý cho họ đi theo. Hầu hết chồng của họ đi lính ở ngoài tỉnh Bình Định. Đa số là lính Thủy quân lục chiến và Nhảy dù ở ngoài Quảng Trị và Huế. Một số ít là lính sư đoàn 22 đang ở Tân Cảnh và lính sư đoàn 23 ở Ban Mê Thuột.
Huế và Ban Mê Thuột đã giải phóng nhưng chồng của họ vẫn biền biệt. Sau giải phóng vài tháng có vài người trở về. Nhưng rất nhiều người mãi không về do nhiều hoàn cảnh khác nhau. Một số khác thì lên tàu của Hải quân Mỹ và sang định cư ở nước ngoài từ thời điểm đó.
Thình lình những tiếng nổ chát chúa từ núi Một. Những tiếng nổ không ngớt và có chiều hướng càng lúc càng khốc liệt hơn. Không chần chừ, cha tôi dẫn con cái và mấy bà vợ lính tay xách nách mang lên đường.
Khi ra đến cầu Đôi, mấy ụn khói trên núi Một đen ngòm bốc lên cao. Một dãy nhà dân trên trục đường lên núi Một bắt đầu bốc cháy.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Núi Một nhìn từ kho muối cũ trên đường ra Đông Định.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Mỏm đồi cao nhất của núi Một. Nơi đặt khẩu Đại liên M60 hướng về xóm Hưng Thạnh.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Vị trí 2 khẩu pháo 105mm và kho đạn ngày xưa. Chiều ngày 31/3/1975 pháo và đạn bị phá hủy trước khi lính ĐPQ rút chạy, gây ra đám cháy nhà của dân.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Bãi đáp trực thăng ngày xưa.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Núi Một nhìn xuống Tháp Đôi và xí nghiệp giày da Bình Định ( xưa kia là xưởng đắp lốp Kim Ngọc)

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh
Cự ly giữa núi Một và " xóm Cộng Sản Hưng Thạnh"

Lúc đó khoảng 2 giờ chiều ngày 31/3/1975. Lịch sử sang trang .
QUY NHƠN CHIỀU 31/3/1975.


Những tiếng nổ liên tục vang lên giữa buổi chiều 31/3 từ núi Một. 
Lâu lâu lại có một ánh chớp lóe lên rồi một đụn khói cao đen ngòm bốc nhanh vào không trung. Lúc gia đình tôi vượt qua Cầu Đôi thì đoàn xe đi di tản vẫn tiếp tục lao nhanh trên đường 19. Khi đến ngả ba Ông Thọ cha tôi kiểm tra lại đội hình. Tính cả thì có 9 gia đình và gia đình tôi là 10. Những gia đình theo tôi thực chất là vợ và con của lính. Chồng họ không biết thế nào mà không thấy về. Nhiều người cố nán lại chờ chồng nhưng núi Một đạn nổ nên cũng khăn gói theo gia đình tôi. Hầu hết họ còn khá trẻ chừng 25 tuổi mới có vài đứa con. Như vậy cả đàn người khoảng 40 người. Những người vợ lính đều ở nhà thuê, khi ra đi chỉ có cái túi xách và tay bế con. Ai có 2 đứa thì dắt theo. Nhưng con nít thì nó đi thế nào được khi những tiếng nổ ầm ấm đuổi theo từ phía sau. Trời nắng chang chang không một chút mây.
Thấy cảnh tượng như vậy, cha tôi mới bảo tôi quay lại để lấy bó chiếu và xúc thêm một ít gạo trong cái ruột nghé mà mẹ tôi đã may sẵn. Khi quay về được một đoạn thì tôi thấy phía bên kia đường rẽ vào xóm Phú Huề, một chiếc xe đạp mới tinh ai đó đã vứt lại. Tôi băng qua đường và dựng chiếc xe lên để chạy.

Phóng to (kích thước thật: 1023 x 682)Hình ảnh
Đường vào Đèo Son 

Tôi lấy được bó chiếu và hơn 10kg gạo chất phía sau xe đạp. Do đạn nổ nên tôi cắm đầu chạy chứ không chú ý gì hai bên đường. Khi tời ngả ba vào kho đạn 521 ( đòe Son) thì tôi thấy một chiếc xe DOGE từ phía trong chạy ra. Tời đoạn đường rầy cắt ngang chiếc xe chạy chậm lại. Thình lính từ phía sau có 2 tiếng nổ chát chúa và chiếc xe bốc cháy. Tôi hoảng quá, vứt luôn chiếc xe đạp và lao nhanh vào trong vệ đường. Từ bên hông nhà Đào Giáo và Thanh Lưu, những chiến sĩ giải phóng thấp thoáng ẩn hiện. Từ phía Đèo Son những loạt đạn bắn trả lại về hướng mặt đường. Thấy tình hình không ổn, tôi chạy luồn vào trong xóm và nấp ngay dưới gậm Cầu Đôi. Súng hai bên vẫn nổ đều, không còn cách nào khác tôi bơi dưới gậm cầu để sang bờ phía bên kia. Được một lát thì không nghe tiếng súng nữa, tôi nhanh chóng băng qua đường đê ra Đông Định, men theo bờ cá ông Thịnh để đi. Khi hết phần đất bờ cá ông Thịnh là đến con đường vào khu gia binh ( dành cho gia đình của lính ở, sau giải phóng là công ty vật tư tỉnh Nghĩa Bình). Tôi ra đường 19 và đi về hướng chợ Dinh dể gặp gia đình.

Phóng to (kích thước thật: 1023 x 682)Hình ảnh
Gậm cầu Đôi nơi phải bơi để tránh đạn chiều 31/3/1975.

Khi đến ngả ba hãng nước đá Bạch Tuyết phía trên cầu chợ Dinh ( sau giải phóng là Công ty giống cây trồng Tuy Phước) tôi thấy một chiếc xe cát đậu ngay ngả ba. Trên xe không còn ai nhưng hàng hóa còn lại gần như nguyên vẹn. Không biết mấy người trên xe đi đâu, nhưng tôi chỉ thấy người tài xế chừng 50 tuổi chết úp mặt xuống đường ngay chỗ từ cabin xe bước xuống. Người tài xế này có lẽ bị đạn lạc.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Ngả ba Bạch Tuyết rẽ phải xuống Chợ Dinh.

Chỉ còn một mình tôi giữa một khung cảnh ghê đến rợn người. Tôi không dám vào trong xóm, vì dễ bị nhầm lẫn là lính nên cứ khom khom đi ngay mặt đường. Đi được một đoạn ngay chỗ đường rầy xe lửa cắt ngang, tôi gặp gia đình tôi đang núp dưới một cái ao ngay vệ đường. Thì ra trong quá trình tôi từ Quy Nhơn lên, hai bên đã có những cuộc chạm súng lẻ tẻ. Khi thấy tình hình đã lắng dịu cha tôi mới nói với tôi là xuống hãng nước đá Bạch Tuyết để xuống chợ Dinh. Khi tôi vừa dưới trũng bò lên đến mặt đường, thấy từ phía bên kia đồng ruộng một nhóm người có súng đạn đang băng qua đồng trống (nay là sau lưng trường CĐSP Bình Định). Ban đầu tôi cứ tưởng là lính, nhưng nhìn kỹ thì biết là quân giải phóng. Giữa lúc cha tôi đang còn phân vân chưa tính thế nào, thì có một chiếc xe lam chạy qua đường. Chiếc xe vừa mới chạy qua chừng 5 phút thì lại có một cuộc chạm súng giữa hai bên. Có những tiếng nổ to và những loạt đạn bay qua đầu. Thình lình có một tiếng xoẹt và một quả đạn nằm chình ình ngay mặt đường . May quá nó không nổ, chứ nổ thì chắc chắn là gia đình tôi không còn ai.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Một đơn vị quân giải phóng tiến ra trục đường Quy Nhơn – Phú Tài ( xa xa là Trường Đại học Quang Trung hiện nay đang xây dựng)

Khi đã im tiếng súng và thấy những bước chân chạy thình thịch trên đường, đoàn người thận trọng bò lên mặt đường để xem thế nào. Thì ra, phía trước chúng tôi có một đám cháy và những người lính giải phóng đang làm gì có vẻ vội vã. Thấy vậy, cha tôi mới lại xem chuyện gì thì ra chiếc xe lam khi nãy đã bị đạn bốc cháy. Trên xe không có người tài xế, chỉ có hình hài của hai người ( có lẽ là hai mẹ con đang bị ngọn lửa bao trùm). Hình ảnh người mẹ ẵm con đang dần dần co rút lại, nước từ trong người thỉnh thoảng nhỏ giọt xuống làm cho ngọn lửa bùng lê nghe xèo xèo. Cha tôi lấy hai thùng gánh nước của một nhà bên cạnh và múc nước tạt vào xe cùng với mấy anh giải phóng.
Có lẽ vì một điều gì đó, mấy anh giải phóng bảo cha tôi dẫn đoàn người quay lại Quy Nhơn. Không nên đi lên hướng cầu Sông Ngang – Phú Tài.
Tội nghiệp cho hơn chục đứa trẻ nhỏ, chúng chỉ biết khóc và có đứa nghe súng nổ sợ quá không không nổi. Chúng cứ bám vào mẹ với cặp mắt đầy kinh hãi.
Khi quay lại ngả ba Bạch Tuyết thì cũng đã có một lực lượng quân giải phóng xuất hiện chừng hơn mười người. Có một người nói giọng Bắc đến nói chuyện với cha tôi. Họ yêu cầu cha tôi dẫn mọi người xuống ngả ba chợ Dinh vì tình hình ở đó có vẻ đã an toàn tránh xa đường từ Quy Nhơn đi Phú Tài. Trên đường đi tôi lại nhắt được một chiếc xe đạp và đó là phương tiện duy nhất của hành trình, có hức năng chuyên chở đám con nít của đoàn người đi lánh nạn.
Khi xuống đến chợ Dinh cha tôi dẫn vào trường học Phước Hậu ( nay là trường THCS Nhơn Bình).
Khoảng trời chạng vạng có một anh giải phóng đến tìm cha tôi. Cha tôi nói chuyện rất lâu ngay bậc thềm của hành lang. Trông hai người nói chuyện có vẻ thân thiện lắm. Thỉnh thoảng tôi nghe anh xưng hô với cha tôi là “ ông Năm”
Khi đi anh còn dặn cha tôi nhanh chóng nấu cơm vì đến tối không ai được đốt đèn hay làm gì có ánh lửa trong đêm.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Ngả ba Chợ Dinh ( tâm điểm của bức hình là đường lên ngả ba Bạch Tuyết)

Mẹ tôi đến nói với cha tôi về chuyện ăn uống. Chỉ có nhà tôi là còn mang theo một ít gạo, còn mấy chị vợ lính thì không ai mang theo gì. Tay này bồng con, tay kia dắt con, vai mang giỏ đồ với mấy bộ quần áo. Chỗ nào nữa để mang theo thứ gì. Hơn nữa đời theo chồng đi lính có chị nào nghĩ đến cái cảnh dở khóc dở cười này. Khi nghe mẹ tôi nói vậy tôi thấy cha tôi buông tiếng thở dài. 
Cuối cùng thì một nồi cháo cũng được nấu. Mẹ tôi sang nhà người dân bên cạnh trường ( nay là cửa hàng tạp hóa đầu chợ Dinh) mượn cái nồi để nấu. Vì trời đã tối và theo lời anh lính giải phóng dặn, nên mẹ tôi cũng nấu nhờ ở nhà người đó vì kín đáo. Cái nồi nấu cháo là cái nồi đồng dùng để tráng bánh. Tôi nhớ rất chính xác là mẹ tôi lấy ra 2 lần với 5 lon gạo để nấu cháo. Mấy đứa nhỏ thì ăn đợt trước, người lớn ăn đợt sau.
Đêm đó tôi đói không tài nào ngủ được, nhưng không dám cử động vì sợ.
Cha tôi cũng không ngủ được vì gánh nặng trách nhiệm của cả một đoàn người, tất cả trông chờ vào những quyết định của ông. 
Nửa đêm thức dậy tôi nghe cha mẹ tôi đang bàn chuyện ngày mai. Nỗi lo của mẹ tôi cũng vẫn là chuyện gạo cơm.
Mẹ tôi òa khóc khi nghe cha tôi nói “ Thôi bà cứ nấu cho mấy đứa nó ăn. Ngày mai tôi sẽ tính. Con cháu mình giờ này cũng đang lưu lạc tứ phương không biết thế nào ? Cứ làm phước để con cháu mình cũng sẽ có người giúp qua cơn hoạn nạn chiến tranh.”
Chưa bao giờ trong đời từ nhỏ đến lúc đó, tôi trải qua một đêm dài như vậy.

Sáng sớm ngày 1/4/1975 một cơn mưa rào xuất hiện ở phố biển Quy Nhơn.

Mới tinh sương cha tôi đã dậy và gọi tôi đi theo. Ông ra ngả ba chợ Đinh với mục đích hỏi thăm tình hình. Mấy anh giải phóng nói giọng bắc đồng ý cho ông Cụ đi về Quy Nhơn “ Ta đã làm chủ thị xã Quy Nhơn từ chiều qua rồi. Cụ đi khẩn chương nhé !”. Lần đầu tiên tôi nghe từ “khẩn chương” và không hiểu nó nghĩa gì ?
Tôi lấy chiếc xe đạp chở cha tôi trở lại Quy Nhơn. Dọc đường về Quy Nhơn vắng không một bóng người. Dưới ngả ba ông Thọ tôi bị mấy anh du kích địa phương chặn lại hỏi. Thấy cha con tôi có vẻ là dân dã nên họ cho đi. Đúng là anh em giải phóng đã làm chủ tình hình, ngay cầu Đôi đã có khoảng vài chục chiến sĩ giải phóng đang ở đó. Họ cũng chặn lại và hỏi đi đâu? làm gì ? Rồi họ cũng cho đi với lời dặn là cẩn thận vì tàn quân có thể còn. 
“ Tinh thần là thế nhé ! Thôi cụ đi đi ” lời kết thúc của anh chiến sĩ giải phóng. Tôi cũng không hiểu “ tinh thần” là cái gì ??

Một cảnh hoang tàn ở ngay chân núi Một. Toàn bộ những dãy nhà đã bị thiêu rụi. Khói còn âm ỉ bốc lên do trời mưa. Những miếng tole cong queo nằm vương vãi khắp nơi. Trên núi Một tôi đã thấy mấy anh giải phóng đang nấu cơm. Thấy cha con tôi về, họ mang súng ống xuống hỏi thăm và sẵn tiện xin một ít muối và nước mắm.
Cha tôi vét hết số gạo còn trong nhà chừng vài chục ký, mấy chai nước mắm và những thứ cần thiết. Tôi bỏ hết vào trong bao và cột lên xe đạp. Gần nhà tôi có một gia đình trồng rau, trên giàn còn hơn 5 trái bí đỏ to đã già lên phần. Họ đã đi vào Nha Trang cách đó đã hơn tuần lễ. Cha tôi bẻ mất trái bí và bỏ vào bao cột hai bên xe. Lúc này xe thì dắt chứ không còn đạp được nữa.
Khi qua cầu Đôi một đoạn thì tôi nghe có tiếng nổ ầm ì xa xa ở hướng Tây. Tiếng nổ càng lúc càng nhiều. Thình lình một tiếng “dút.. dút..dút..” bay qua đầu và nó nổ ngay đường xe lửa gần cầu Đôi. Lúc này ở phía trước, tôi thấy có một sự hấp tấp vội vàng của mấy anh giải phóng. Họ chạy nhanh về hướng chợ Dinh. Liên tiếp mấy quả pháo rơi quanh dọc theo đường Quy Nhơn – Phú Tài. Hai cha con vừa chạy vừa đẩy chiếc xe đạp.

Khi đến ngả ba chợ Dinh nơi mấy gia đình trú đêm. Tôi thấy một nhóm người đang ở trần, hay mặc áo may ô, quần đùi đang tập trung tại ngả ba. Đó là số mấy anh lính Sài Gòn đầu hàng, hay bị mấy anh giải phóng bắt đang tập trung. 

Khoảng 9 giờ sáng, đạn pháo càng lúc nghe càng gần và có phần nhiều hơn khi sáng. Cha tôi bảo mọi người thu dọn đồ đạc để đi tiếp chứ không quay về Quy Nhơn.

Người chiến sĩ giải phóng mà cha tôi gặp chiều tối qua là con của một người bạn thân cùng làm bốc vác với cha tôi ở cảng khu I. Cha anh kêu cha tôi bằng chú, nên anh gọi cha tôi là “ Ông Năm”. Anh thoát ly gia đình năm 1971. Anh có thằng em kế cùng học chung với tôi.
Cha tôi có kể lại sau này là anh nói cha tôi nên dẫn gia đình về hướng Lòng Sông – Phước Thuận. Đó là miền quê mà ta đã làm chủ hoàn toàn đảm bảo an toàn nhất.

Mới qua chợ Dinh chừng mấy chục mét thì liên tiếp mấy quả pháo roi gần đó nổ đùng đùng. Cha tôi bảo mọi người chui vào một cái cống nước đưới mặt đường. Cả mấy chục con người chui vô một cái cống tránh đạn thì quả là chuyện nan giải. Mấy đứa nhỏ khóc la om sòm. Người lớn thì cũng khóc theo. Người thì sợ mắt xanh như tàu lá.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Cống nước tránh đạn pháo sáng 1/4/1975.

Đang lo lắng không biết điều gì thì anh giải phóng xuất hiện. Anh nói to với cha tôi “ Ông Năm lên nhà Bác Sáu con ở cầu số 8. Cha con chờ ông Năm trên đó!”. Nói xong anh chạy nhanh về hướng ngả ba Bạch Tuyết.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Cầu số 8

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Đường từ cầu số 8 ra cầu bến Gỗ.

Khi lên đến cầu số 8, người bạn cha tôi bảo mọi người bỏ lại những thứ gì không cần thiết. Nhanh chóng rời các trục đường Quốc lộ 19 cáng nhanh càng tốt. Ông cho mấy đứa cháu dùng xe đạp cùng với tôi chở toàn bộ mấy đứa bé ra cầu bến Gỗ trước. Mỗi chiếc xe đạp được gắn một miếng ván bề ngang chừng 30cm trên cái sườn ngang để cho mấy đứa ngồi. Những tiếng kêu la thảm thiết vì xa mẹ làm ai cũng chạnh lòng. Ra đến cầu bến Gỗ có một ngôi nhà tranh khá rộng không có người ở. Toàn bộ mấy đứa nhỏ được tập trung ở đó do tôi quản lý.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Nơi ở đêm 1/4/1975. Mầm sống đang lên ! ;) 

‘ Ông bạn của cha tôi quê ở Cát Chánh – Phù Cát bên sông Phú Hậu. Nhà ông ở sau lưng đồng muối Bảy Búa ( khu vực 4 phường Đống Đa hiện nay). Sau giải phóng, tôi mới biết bà con họ hàng gia đình ông là những cơ sở của cách mạng. Ông rất thân với cha tôi và có thể coi như người trong nhà. Ông không giấu cha tôi điều gì. Ông biết rõ về cha tôi là người có thiện cảm với cách mạng, nên nhiều điều ông tâm sự với cha tôi biết.
Tại sao suốt những năm tháng ở Quy Nhơn cha tôi được tự do ra vô vùng Hưng Thạnh khi người khác không dám qua khỏi cầu 2. Gần như ông là người bảo đảm cho cha tôi được thoải mái làm ăn.
Sáng ngày 1/4/1975 ông biết là ở vùng Tuy Phước, Quy Nhơn sẽ có đánh lớn. Quân giải phóng sẽ chận đánh đường rút của trung đoàn 47 sư đoàn 22 từ Tây Nguyên về. Ở thời điểm đó cơ quan đầu não chỉ huy giải phóng Quy Nhơn đang ở vùng Phước Thuận”.

Sáng ngày 2/4 gia đình tôi vượt cầu bến Gỗ và trú ở khu vực nhà thờ Lòng Sông.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Bến nước trước nhà thờ Lòng Sông

Sáng sớm ngày 2/4/1975.

Gia đình tôi cùng đoàn người lục đục qua cầu bến Gỗ. Vùng đất này cha tôi rất có nhiều người quen vì những ngày đi chài qua lại hoài nên ai cũng biết. Nhưng trong ngày đó hầu hết họ đóng cửa ở trong nhà. Cha tôi ngại nên không gọi ai. Thôi thì cứ đến nhà thờ Lòng Sông tiện hơn. Dù sao cũng là nơi tôn nghiêm tu hành.
Cả mấy chục con người tụ tập ngay cổng Chủng viện. Thấy cửa đóng, hai cha con tôi đẩy cửa bước vào bên trong. Khi gần đến cổng của nhà thờ, tôi thấy Cha Long vị linh mục coi sóc chủng viện bước ra. Hai cha con tôi gật đầu chào Cha. Cha tôi nhanh chóng trình bày ý định xin được ở trong rừng cây sao của chủng viện. Vì thường ngày cha con tôi cũng thường ghé đây nghỉ trưa. Linh mục mới cha tôi vào phòng và nói chuyện chừng 15 phút. 

Khi trở ra cha tôi đi cùng một người đàn ông trạc tuổi cha tôi. Người đàn ông đó dẫn cha tôi đến một ngôi nhà tranh khá rộng ở ngay bờ sông. Lát sau, cha tôi trở lại và dẫn cả đoàn người về ngôi nhà đó.

Một ngôi nhà xưa rất rộng. Diện tích sử dụng chừng 100m2 với nhiều phòng nhỏ. Có lẽ ngôi nhà này lâu lắm không có người ở. Mùi mốc thoang thoảng cả ngôi nhà. Mạng nhện giăng khắp lối đi. Trong khi chúng tôi đang dọn dẹp nơi ở, thì người đàn ông trong nhà thờ trở lại, chở theo một bao chừng vài chục ký gạo trên chiếc xe đạp cùng một ít cá đã kho sẵn trong nồi.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Đêm 2/4/1975 ở ngôi nhà này. Chủ nhân đã xây dựng lại khang trang hơn.

Đây là ngày đầu tiên mà chúng tôi có nơi ở ổn định. Ai cũng tranh thủ kiếm chỗ nghỉ ngơi. Riêng tôi được ông già giao cho nhiệm vụ ngồi phía trước ngôi nhà, coi ngó có gì thì báo lại cho ông. Ngồi một mình dưới gốc cây xoài, xung quanh là đồng lúa gần chín trong một không gian tĩnh lặng không bóng người. Không hiểu sao mà người dân ở đây không ai bước ra khỏi nhà trong ngày hôm ấy.

Dù không còn nhỏ tuổi nhưng thực tình ở thời điểm đó ngoài việc đi học và đi chài tôi không để ý đến một điều gì. Chiến tranh đã là chuyện bình thường của tôi. Những người anh quanh năm vắng nhà. Thỉnh thoảng lại có một người về ở nhà vài bữa rồi đi. Từ nhỏ đến lớn gia đình tôi chưa bao giớ có mặt đông đủ con cái. Mãi đến năm 2000 tức năm tôi đã qua tuổi 40 thì gia đình tôi mới có một cái Tết sum họp đầy đủ mười anh em.

Mẹ tôi sợ nhất là lính vào nhà, vì đó là những người mang đến những tin không lấy gì tốt lành. Mỗi lần nghe tin chở xác lính về, mẹ tôi không bao giớ dám ra coi nhưng luôn lắng nghe tin tức xung quanh. May thay, trong suốt chặng đường chiến tranh trước giải phóng và sau này gia đình tôi không nhận một tin buồn nào. 

Đêm đó, trong căn nhà không ánh đèn, xung quanh vắng lặng đến ghê người, chỉ có tiếng ếch nhái kêu khắp cánh đồng. Tôi nghe nhiều tiếng khóc nức nở âm thầm và tiếng thở dài của những người phụ nữ. Ngay cả mẹ tôi là người đã lớn tuổi cũng hai hàng nước mắt lăn dài trên gương mặt nhăn nheo.
Tôi vẫn được cha tôi giao nhiệm vụ thức để nghe ngóng xung quanh. Cha tôi sợ nhất là anh em lính Sài Gòn còn ẩn nấp đâu đó, ban đêm thấy chỗ nào có người thì mò đến. Đó là chuyện khá phức tạp trong thời điểm nhạy cảm nhất của chiến tranh.

Trời đã khuya, tôi đang ngồi ngay trước thềm để canh cho cả nhà, thì chị Hai Liên đến ngồi cạnh. Chị có hai đứa con, đứa lớn chưa đầy 4 tuổi và đứa sau hơn 2 tuổi. Chị đang mang bầu chừng vài tháng một đứa nữa. Năm đó chị 27 tuổi. Chị quê ở Bồng Sơn và gia đình chị cũng đang còn ở quê. Chị nói là quê chị cũng đánh nhau ghê lắm. Từ khi chị có trí khôn, chưa đêm nào chị biết đến một giấc ngủ trọn vẹn. Anh chị gặp nhau khi đơn vị Thủy quân lục chiến của anh về Đèo Nhong và Bồng Sơn. Quê anh ở Đà Nẵng nhưng cũng mồ côi cha mẹ, anh đã chọn Quy Nhơn để chị sinh sống do có nhiều bạn bè lính ở Quy Nhơn. Anh chị chỉ về chung sống với nhau chứ hai bên không cưới hỏi gì. Thời đó, chuyện lính đi đến đâu có vợ ở đó là chuyện thường. 

Anh đang ở Quảng Trị cùng với nhiều anh em trong xóm tôi thời đó. Nhưng anh và chị đã mất liên lạc gần một tháng không nhận được thư từ gì. Nỗi lo của chị là không biết anh còn hay đã chết ? Mai đây mẹ con chị sẽ sống ra sao? Làm gì để sống ? Chị nói đó là những điều đang cắn xé tâm hồn chị không thể ngủ được. Không hiểu chị nói thật hay đùa : Chị đến với anh trước hết là chị muốn rời khỏi mảnh đất Bồng Sơn tang tóc của chị, rồi sau đó mới đến tiếng gọi của con tim.
Cả hai vợ chồng chị rất đẹp đôi. Anh Thể chồng chị cũng rất là điển trai và tính hài hước. Mỗi lần về nhà, anh thường chơi với chúng tôi. Chuyện ông lính và mấy ông thanh niên choai choai thì cũng chẳng có gì, ngoài chuyện bày cho mấy thằng em tán gái. Thời đó anh gọi là “toán gói”.
Chị Liên là một phụ nữ cũng khá đẹp. Nhìn vào đôi mắt chị như có những ánh sao. Chị rất hiền, dễ chịu và rộng rãi. Tối tối chị hay nấu chè kêu mấy đứa trong xóm đến ăn và nói chuyện trên trời dưới đất. Chị cũng được học hành tử tế thời đó. Chị học xong đệ ngũ ( lớp 8) thì nghỉ vì chiến tranh.
Khi về sống với anh, chị là thiếu nữ mới lớn lên không có nghề nghiệp gì. Cuộc sống chị đều dựa vào tiền lương của lính. Nói chung thì không khá giả gì nhưng cũng không phải lo chuyện thiếu thốn, nếu biết lựa cơm gắp mắm.

Hình ảnh
Góa phụ trẻ ( Diễn viên Lê Vân trong phim Bao giờ cho đến tháng Mười)


Những đứa con chị rồi sẽ lớn lên, rủi thay không có cha thì cuộc đời sẽ đi về đâu ? Tuổi đời của chị hãy còn khá trẻ giữa thời loạn lạc.
Chưa có một bài văn nào ở nhà trường phổ thông thời đó đi vào đề tài này. Chỉ có dòng nhạc của Trịnh Công Sơn là có nói đến thân phận của con người trong chến tranh. Nhưng lúc đó, nhạc Trịnh được cho là nhạc phản chiến. Hát dòng nhạc đó coi chừng cũng vào đồn cảnh sát như chơi.
Đến giờ phút đó tôi mới giật mình vì những điều chị mới tâm sự. Tôi chẳng biết nói gì hơn ngoài chuyện an ủi chị. Cố gắng nuôi mấy cháu rồi chờ một thời gian nữa anh sẽ trở về với chị.

Nhìn lại xung quanh.
Chiến tranh điều dễ nhận ra nhất là những cuộc bố ráp bắt lính. Những tình yêu mới nhen nhóm của tuổi trẻ bị chia lìa. Có người mới kịp xốn xang một cái vóc eo thon dưới chiếc áo dài trắng thắt lưng ong. Chưa kịp nhìn sâu vào ánh mắt của người con gái nó có gì mà khủng khiếp, đến nỗi nhìn vào đó thằng nào cũng ú ớ nói không ra hơi…Có người lính khi chở xác về nhà đôi mắt còn mở như đang tự hỏi là tại sao mình chết ? Chị kể ngày cưới, chị còn chưa hết ngỡ ngàng với hạnh phúc chấm dứt thời con gái để làm vợ, thì đã chịu cảnh xa chồng. Nhiều cuộc ra đi, nhiều sự cách xa không có ngày trở về để được gần gũi. Người ngã xuống ngoài chiến trường cũng chỉ là một khoảnh khắc cực ngắn, rồi vĩnh viễn yên nằm dưới lòng đất. Nỗi đau xa vắng, mất mát của người còn sống mới là điều kinh khủng. Những người phụ nữ với cuộc đời bình lặng trong nỗi cô đơn. Còn gì để họ bám víu giữa dòng đời. Nhưng phải sống và cố gặm nhấm từng nỗi đau day dứt trên suốt một chặng đường đời. Điều còn lại của chị Liên và những người vợ lính khác trong chiến tranh của cả hai phía rất nặng nề. Nó quá sức tải của "đôi vai gầy guộc nhỏ như một cánh vạc bay" : Nuốt nước mắt vào lòng, cố vun vén cho những hạt mấm bé bỏng để hưởng lấy nguồn hạnh phúc trọn vẹn từ những mất mát đau thương. 
Tiếng con bé Thảo khóc đã đưa về với thực tại. Chị vào nhà để dỗ nó ngủ. Trong đêm thanh vắng là cô đơn không hiểu chị nghĩ gì ?

Sáng ngày 3/4/1975, trước khi về lại Quy Nhơn để coi tình hình nhà cửa. Tôi thấy đôi mắt đẹp của chị một quầng thâm đen. Hãy còn đó hình như một chút muối của tuyến lệ rơi. Vị mặn đó, có đáng là gì giữa một bể khổ bao la.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Đường đê về lại Quy Nhơn qua ngả Đông Định sáng 3/4/1975 

QUY NHƠN THÁNG 5/1975.

Gia đình tôi trở lại Quy Nhơn khi thành phố im tiếng súng chừng mấy bữa. Từ Lòng Sông cả gia đình theo men đê Đông Định để về Quy Nhơn. Khoảng ngày 10/4 có một cuộc mít tinh lớn ở sân vận động. Chủ tịch đầu tiên của UBNDCM tỉnh Bình Định Nguyễn Trung Tín dáng người cao và gầy đứng trên bụctuyên bố những chính sách mới của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Điều được nhấn mạnh nhiều nhất là chính sách khoan hồng của chế độ mới với những người đã tham gia chế độ Sài Gòn. Kêu gọi tình hòa giải hòa hợp dân tộc. Quyết tâm xây dựng một xã hội mới ấm no và hạnh phúc. Đây là lần đầu tiên được thấy những chiến sĩ giải phóng đội mũ tai bèo mà ngày trước quen gọi là Việt Cộng hay Cộng Sản. Nét rạng rỡ trên khuôn mặt của những người vừa mới giành được chiến thắng. Đa số nói giọng Bắc và có những cử chỉ thân thiện và đầy thiện cảm với người dân.
Trên núi Một có một đơn vị bộ đội chừng mấy chục người thường xuyên xuống các nhà xung quanh để tuyên truyền những điều mà chính quyến mới quan tâm. Có thể nói rằng đó là những người rất lịch sự và lễ phép khi tiếp xúc với dân. Họ không có làm gì để phiền đến dân. Mấy anh cũng nhờ dân mua hộ những bó rau muống, thỉnh thoảng còn xin chút muối chút mắm về ăn. Trong những ngày đó, cứ mỗi khi tôi đi chài các anh thường mang súng đi theo. Vì dân chưa về nhiều, chợ Tháp Đôi vắng tanh nên toàn bộ cá tôi đều bán lại cho đơn vị của các anh. Đơn vị trả bằng tiền của chính quyền Sài Gòn. Nhờ mối lái này mà nhà tôi vượt qua những khó khắn ban đầu của những ngày mới giải phóng.
Ngay từ những ngày đầu tiên tôi đã có cảm tình với mấy anh giải phóng. Họ cũng là con người bình thường. Họ cũng được học hành tử tế như những người khác. Có anh Gọn quê ở Cẩm Định – Cẩm Giàng – Hải Hưng là sinh viên khoa Văn của trường ĐHTH Hà Nội nhập ngũ vào nam năm 1971. Trong thời gian đầu, anh thường xuyên đến nhà và mượn đọc một số tác phẩm văn chương của nhóm Tự lực Văn đoàn, những sách Tuổi Hoa ngày ấy. Có khi hai anh em ngồi nói chuyện học hành chữ nghĩa suốt cả đêm.
Trong ba lô của anh vẫn còn cuốn lưu bút. Trong đó có rất nhiều bài thơ của bạn bè. Phải công nhận một điều nét chữ của người miền Bắc khác xa với cách viết của người miền Nam. Trong lúc nói chuyện, anh không bao giờ nói đến chuyện chính trị hay những gì đang xảy ra ở thời điểm giao thời giữa hai chế độ.
Anh cũng cho tôi xem những lá thư của người yêu. Chị là công nhân của nhà máy xà phòng Hà Nội. Anh vẫn còn giữ cả hộp kem đánh răng mà chị đã tặng anh khi lên đường (không hiểu sao nhà máy xà phòng mà lại sản xuất cả kem đánh răng). Lần đầu tiên trong đời tôi nhận ra tình yêu nam nữ trong chiến tranh. Điều mà tôi suy nghĩ rất nhiều ngày đó là tình cảm của họ dành cho nhau. Chị luôn nhắc lại những kỷ niệm lãng mạn của hai người bên hồ Tây, lời thề non hẹn biển của cuộc tình. Anh kể tôi nghe về mùa thu Hà Nội về mùa hoa sữa ( lúc đó hình như Quy Nhơn chưa có loại cây này).

( Năm 1982 trên đường từ tuyến lửa Hà Giang về lại miền Nam. Tôi đã có dịp thưởng thức hình ảnh Hà Nội mùa hoa sữa. Từ binh trạm 99 trên đường Nam Bộ, những anh lính miền Nam rảo qua những đường phố Hà Nội về đêm. Mùi hoa sữa ngát hương trên đường Thanh Niên. Ngồi bên bờ hồ Thiền Quang (hay Thiện Quang?) những cơn gió thoảng qua với mùi hoa nồng nàn trong sắc trời Thu chuyển sang Đông. Không khó để nhận ra rằng chính mùi hoa sữa đã khắc sâu vào trái tim của anh chị một tình yêu đẹp. Khi chia tay nhau ai cũng mang những nỗi nhớ bâng khuâng, xốn xang, xao xuyến của con tim hừng hực lửa tình yêu.”

Lúc đó tôi mới nhận ra sao ngày trước họ tuyên truyền về những người Cộng Sản kinh khủng vậy. Ấn tượng nhất có lẽ là bức tranh vẽ 7 anh giải phóng đu cái tàu đu đủ nhưng không chìm.

Ngày 5/5/1975.

Tôi nhận được thông báo của UBNDCM phường Trung Thiện ( lúc đó vẫn gọi theo tên cũ, nay là phường Đống Đa) yêu cầu tập trung về trụ sở Phường để nhận công tác của chính quyền.
Sau khi giải phóng Sài Gòn xong, chính quyền tỉnh Bình Định bắt đầu đưa cuộc sống trở lại bình thường. Tầng lớp thanh niên đóng vai trò tích cực trong các hoạt động địa phương. Chủ yếu tập trung vào công tác tuyên truyền vận động, kẻ khẩu hiệu hay làm áp phích. Ban đêm tập trung ca hát các bài hát cách mạng như : Bác cùng chúng cháu hành quân, Bão nổi lên rồi, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng.

Thời gian đó người dân chưa trở về nhiều. Phố xá vắng bóng người, trong suy nghĩ của nhiều người, nhiều gia đình đang lắng nghe những động tĩnh xung quanh để thăm dò về một chế độ mới. 
Tôi sinh hoạt chung cùng với nhóm sinh viên trường Sư Phạm Quy Nhơn về hoạt động phong trào. Các anh chị sinh viên đa số đang học năm thứ 2 hay chuẩn bị ra trường (cùng thế hệ với ca sĩ Lý Anh Võ hay hát trên Đài truyền hình Quy Nhơn ngày mới giải phóng, đến nay có người đã hưu hay chuẩn bị về hưu ) đã tham gia tích cực trong những ngày đó.

Ngày 15/5/1975 là ngày lễ mừng chiến thắng của tỉnh Bình Định.

Lần đầu tiên trong đời tôi được thấy pháo hoa. Trong chiến tranh chỉ biết có hỏa châu ban đêm do máy bay thả kèm theo cái dù to. Ánh sáng hỏa châu gợi lên điều gì của chiến tranh đau thương. Pháo hoa thì khác, gợi lên những gì đẹp đẽ trong thời khắc thanh bình. Pháo được bắn từ khu vực Hải Minh. Tôi và mấy đứa em bế cháu cùng leo lên núi Một để nhìn cho rõ.

Comments