THÔNG TIN KHÁC‎ > ‎

XỨ NẪU BÌNH ĐỊNH

Địa danh Bình Định nhìn từ góc độ văn hóa (tiếp theo)

đăng 07:46, 6 thg 4, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 11:19, 16 thg 9, 2014 ]

Phạm Thị Phượng

CHƯƠNG 2.          KHẢO SÁT VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH

                          TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH ĐỊNH

 

2.1. Những đặc điểm cơ bản của địa danh tỉnh Bình Định

2.1.1. Nguyên tắc định danh và sự biến đổi địa danh ở Bình Định

Ngôn ngữ là một thành tố cấu thành văn hoá. Trong ngôn ngữ, cùng với nhân danh, địa danh cũng chiếm một số lượng đáng kể. Thông qua hệ thống địa danh, người ta không chỉ góp phần nghiên cứu phương ngữ của một vùng miền, một đất nước mà còn góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá của một dân tộc. Lịch sử hình thành và phát triển của một vùng đất có nhiều tên gọi khác nhau, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Vì thế, nghiên cứu địa danh sẽ góp phần tìm hiểu lịch sử phát triển của một vùng đất, làm sáng rõ sự ảnh hưởng và tác động của những nhân tố bên ngoài vào cách đặt tên: Đặc điểm văn hoá, sự di chuyển, tiếp xúc, giao lưu giữa các dân tộc về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán,...đúng như PGS.TS. Lê Trung Hoa đã khái quát “Nghiên cứu địa danh sẽ góp phần nghiên cứu văn hoá một vùng lãnh thổ - một trong những vấn đề đang được quan tâm hiện nay” [ ; ].

2.1.1.1. Nguyên tắc chung

Việt Nam một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên dải đất hình chữ S. Và hơn thế nữa nước ta có một lịch sử hình thành và phát triển khá lâu dài do đó vấn đề địa danh nước ta cũng giống như trên thế giới, vô cùng phức tạp và có nhiều biến đổi qua từng giai đoạn. Cũng như các địa phương khác, Bình Định là một tỉnh có lịch sử hình thành khá lâu dài, là mảnh đất tập trung rất nhiều đồng bào dân tộc anh em sinh sống như: Kinh, Bana, Chăm…bởi những lẽ đó mà địa danh của Bình Định cũng mang tính phức tạp chung giống như địa danh Việt Nam, chịu tác động của các quy luật xã hội, dân tộc và ngôn ngữ, địa danh cũng thường có những biến đổi nhất định.

Nghiên cứu về địa danh nước ta bắt đầu từ lâu, song việc tìm ra các đặc điểm, các nguyên tắc mang tính lý luận, hệ thống thì lại chưa được chú ý. Trong khi đó đây lại là vấn đề cơ bản nhất của Địa danh học, nhất là với các nước có lịch sử phát triển lâu đời. Đặt biệt việc nghiên cứu địa danh tại những địa phương riêng biệt (đơn vị tỉnh) ở Việt Nam cũng chưa thực sự phổ biến. Có lẽ, đây cũng là nguyên nhân cơ bản khiến cho ngành Địa danh học ở Việt Nam tuy có lịch sử phát triển và tồn tại khá lâu dài những lại chậm phát triển. Các nhà địa danh Xô Viết (cũ) thường căn cứ vào đối tượng mà địa danh biểu thị để định danh tức là phải căn cứ vào nội dung của khái niệm được định danh, vì thế họ đã nêu các nguyên tắc định danh theo phương thức: Phương danh (tên các địa phương), sơn danh (tên núi, gò đồi…), thủy danh (tên các dòng chảy, ao, hồ…), phố danh (tên các đường phố, thị thành…)

Theo tài liệu khảo cứu của tác giả Nguyễn Văn Âu, nguyên tắc chung trong định danh các địa danh Việt Nam, “các tác giả trước đây cho rằng nhân dân ta thường dựa vào các sách cổ như: Phong thổ, Cổ chí hay là thiên Vũ Cống trong Kinh Thư, tức là khi đặt tên một địa danh, thường dựa trên các nguyên tắc cơ bản là: dựa vào các đặc điểm tự nhiên (sông, núi…), các điều kiện sinh hoạt xã hội, sản xuất hay một sự kiện lịch sử nào đó” [  ]. Vì vậy, dựa vào đặc điểm khái quát của địa hình, ngôn ngữ và đặc trưng văn hoá của vùng miền là nguyên tắc khái quát nhất để định danh các địa điểm, khu vục cụ thể.

2.1.1.2. Nguyên tắc cụ thể

Từ các quan niệm đã trình bày trên, việc xác định một địa danh đều tuân theo các nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này được thể hiện rõ trong các địa danh cụ thể. Tuy vậy, ở đây cũng có thể nêu lên một số nguyên tắc chủ yếu:

a.  Xét từ phương diện địa lý học

Chúng ta có những phương thức định danh các đối tượng địa lý tự nhiên, địa danh được thực hiện theo một số nguyên tắc sau:

- Định danh theo địa phương: Một số địa danh cụ thể được xác định theo tên của một địa danh sẵn có ở địa phương. Đó là các địa danh: Sông Kim Sơn, sông Gò Bồi, biển Trung Lương, …

- Phương hướng: Một vài địa danh cũng đặt theo phương hướng chung như: biển Đông, xã Mỹ Chánh Tây, thôn Dương Liễu Nam, Tam Quan Bắc…

- Dân tộc, ngôn ngữ địa phương: Một số địa danh cũng được gọi theo tên các dân tộc ít người ở địa phương như: thành Hời, thành Chàm.

- Tên người: Địa danh có khi được đặt theo tên người như: Truông Bà Đờn, ẹo Bà Nho, cầu Ông Đô, chùa Ông Núi… đặc biệt đó là đối với tên các con đường ở các thành phố, người ta thường lấy tên của các vị Vua, các nhân vật anh hùng để đặt tên cho các con đường như: An Dương vương, Tây Sơn, Tăng Bạt Hổ…

- Lịch sử: Một số địa danh cũng được đặt theo tên các sự kiện lịch sử nào đó: Quảng trường chiến thắng, đường 31.3, rạp 1 tháng 4…

- Đặc điểm chung: Một vài địa danh mang tính chất chung như:…….

b. Xét từ phương diện kinh tế xã hội

Các địa danh về kinh tế xã hội cũng không kém phần phức tạp và cũng được xác định theo một số nguyên tắc sau:

          - Địa phương: Một số địa danh đặt theo tên địa phương sẵn có như: thị trấn Phú Phong, thị trấn Bồng Sơn…

          - Đặc sản: Địa danh cũng được đặt tên theo các đặc sản địa phương như: thôn Diêm Tiêu, Nại Muối…

          - Nghề nghiệp: Một số địa danh cũng được xác định theo nghề nghiệp địa phương như: …

          - Tình Cảm, nguyện vọng: Một số địa danh được đặt tên theo tình cảm, nguyện vọng của nhân dân địa phương như: An Lão, Mỹ Thọ, Phước An, Phước Nghĩa…

          - Tên người: Các địa danh được đặt theo tên người như: tỉnh Tăng Bạt Hổ (Bình Định ngày nay), công viên Quang Trung, đường An Dương Vương...

          - Dân tộc địa phương: Cũng có địa danh được đặt theo tên dân tộc địa phương như: tỉnh Chiêm (Bình Định ngày nay)…

          - Thứ tự: Các địa danh cũng được xác định theo thứ tự như: cầu Hà Thanh 1, 2, 3…, Hồ Núi Một

          - Phương Hướng: Các địa danh được xác định theo phương hướng như: Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam…

          - Màu sắc: Cù Lao Xanh, núi Xanh…

          - Đặc điểm chung: Một số địa phương cũng được xác định theo đặc điểm xã hội địa phương như: …….

          c. Xét từ phương diện ngôn ngữ

          Từ góc độ ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu dựa vào các nguyên tắc sau:

          - Dựa vào đặc điểm chính của đối tượng để đặt tên, cách này thường dùng cho các loại địa danh chỉ địa hình tự nhiên và công trình xây dựng, ít áp dụng cho các loại địa danh hành chính và địa danh vùng. Goi theo hình dáng của đối tượng như các địa danh như truông Bà Đờn, ẹo Bà Nho, gọi theo kích thước của đối tượng như: chợ Lớn, gọi theo màu sắc của đối tượng như: Cù Lao Xanh, núi Xanh…, gọi theo kiến trúc và cấu trúc của đối tượng như cầu Đôi, tháp Đôi, ..., gọi theo các loại cây trồng, đặc sản:….

          - Dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ với đối tượng để gọi, gọi theo vị trí của đối tượng so với các đối tượng khác: Cầu Thanh Trực 1, 2, 3, (An Nhơn, Phù Cát), Trà Câu 1, 2 (An nhơn); Gọi theo tên gọi người nổi tiếng trong vùng: Ngã ba Ông Thọ, cây xăng Ông Tề, ngã ba Ông Đô; gọi theo biến cố lịch sử hoặc nhân danh có liên quan đến đối tượng: Đường 31 tháng 3, Đại lộ Nguyễn Tất Thành, đường Lê Thánh Tôn…, gọi tên theo công trình xây dựng ở đó như Hồ Định Bình, khu công nghiệp Phú Tài

          - Ghép các yếu tố Hán Việt để đặt tên: Cách này thường dùng để đặt tên các địa danh hành chính, nhất là tên xã, thôn. Hầu hết đều mang ý nghĩa tốt đẹp như: Mỹ, Nhơn, Cát, An, Cẩm, Nghĩa, …như Mỹ Thành, Mỹ Thọ, Mỹ Cát, Mỹ Trinh (Phù Mỹ), Nhơn Châu, Nhơn Phú, …

          - Dùng số đếm hoặc chữ cái để đặt tên: khu vực I, khu vực II, tổ dân phố 4, 5, 6, …

          2.1.1.3. Sự biến đổi của địa danh

          Địa danh ở một nơi thường biểu thị cho đặc điểm từng địa phương nên bao giờ cũng mang theo tình yêu quê hương, long tự hào dân tộc. Do đó, địa danh thường được giữ lại khá bền vững trong tâm tư tình cảm của người dân địa phương, tức là có tính bảo lưu mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong quá trình lịch sử, địa danh vẫn có những thay đổi đáng kể làm cho việc nghiên cứu trở nên khó khăn, phức tạp nếu không nắm rõ các quy luật đó.

          Sự thay đổi của địa danh thường do nhiều nguyên nhân khác nhau, có khi rất phức tạp. Dưới đây là một số nguyên nhân chủ yếu:

          - Sự phát triển hoặc lệch chuẩn của ngôn ngữ: Dân tộc ta có lịch sử phát triển lâu dài. Phù hợp với quá trình này, ngôn ngữ cũng tự thay đổi theo, ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn… như Hoài Nhân thành Hoài Nhơn, Quy Nhân thành Quy Nhơn, Tân Quan thành Tam Quan…

Cải cách hành chính trong lịch sử: Trong quá trình phát triển của dân tộc, nói riêng cũng như toàn thể nhân loại nói chung đều có xu hướng tiến hóa… do đó  các triều đại sau thường muốn cải cách xã hội cho phù hợp với điều kiện lịch sử của đương thời. Chẳng hạn, Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn thuộc dinh Quảng Nam. Năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần, đã đổi tên phủ Quy Nhơn thành phủ Quy Ninh…

          - Húy, hèm: Địa danh nước ta cũng phải thay đổi do kỵ húy hay tục hèm. Húy là sự kiêng kỵ không được nói tên các vua hay chúa đương thời, cùng các nhân vật trong Hoàng tộc có khi ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc. Hèm là tục kiêng khem gọi tên các thần Thành hoàng của làng… do đó, ở mỗi thời đại mỗi địa danh phải thay đổi địa phương sao cho thích hợp với nguyện vọng của vua chúa. Nếu không sẽ bị phủ nhận, nhất là với các thí sinh trong các kỳ thi. Ví dụ

          - Nguyện vọng và ý chí của nhân dân: Nhân dân ở một vùng bao giờ cũng gắn bó với địa phương mình, tự hào về mảnh đất nơi mình sinh ra và tồn tại nên thường mong muốn cho địa phương mình có được cuộc sống tốt đẹp và bình yên do vậy họ có nguyện vọng đổi trên địa phương mình cho phù hợp với ý muốn tốt đẹp của họ.Ví dụ

2.1.1.4. Các quy luật chuyển hóa địa danh của Bình Định

          a. Địa danh nước ta nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng thì đều rất phức tạp, song nhìn chung vẫn thường biến đổi theo những quy luật nhất định. Những quy luật này thường rất phong phú, dưới đây là một số quy luật chủ yếu:

          - Địa danh thường biến đổi từ đơn giản đến phức tạp: Địa danh lúc đầu thường có thể rất đơn giản, cụ thể nhưng dần biến đổi theo quy luật phát triển của ngôn ngữ, văn tự. Quy luật này khá phổ biến trên thế giới, trong đó có nước ta. Cụ thể, nó thường chuyển hóa trong nội bộ một loại địa danh như các địa danh chỉ địa hình thiên nhiên…

          - Địa danh thường được rút gọn cho dễ đọc dễ nhớ: Lúc đầu một số địa danh có thể khá dài, song nhân dân thường có xu hướng rút gọn lại cho việc sử dụng được thuận tiện hơn. Chẳng hạn một số địa danh ở vùng dân tộc chăm cũng thay đổi như sau: Cri banoi thành Thị Nại, cửa Hà La được rút gọn từ Hà La Hải Tấn…

          - Địa danh thường biến đổi theo ngôn ngữ - lịch sử: Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, ngôn ngữ cũng có sự thay đổi nên địa danh cũng thay đổi theo là điều đương nhiên. Sự biến đổi thường xảy ra trong cả phụ âm lẫn nguyên âm, chẳng hạn như âm Nhân thành âm Nhơn, trong địa danh Quy Nhân thành Quy Nhơn.

          - Địa danh biến đổi theo ý nguyện của nhân dân: Địa danh là tên gọi đặc trưng cho một vùng, song nhiều khi nhân dân lại muốn biến đổi cho phù hợp với ý nguyện của mình hơn nữa. Về phương diện ý nghĩa, địa danh mới thường mang những ý nghĩa tốt đẹp hơn như: Phú Hòa, Phú Thứ, Hoài Nhơn, An Lão, Hoài Phú…

          - Địa danh thường tồn tại ở dạng song ngữ: Đa số các địa danh cổ nước ta đặc biệt là tên các làng xã thường tồn tại ở dạng song ngữ, tức là ngoài tên nôm cổ, lại còn một tên chữ theo âm Hán Việt. Nắm được quy luật này thì việc tìm hiểu địa danh sẽ đạt được kết quả chính xác hơn.

b. Địa danh thế giới đã phức tạp thì tính chất này còn thể hiện ở nước ta. Đó là một dân tộc có lịch sử phát triển lâu dài, một quốc gia đa dân tộc. Đồng thời chịu ảnh hưởng của yếu tố ngoại lai. Trong quá trình phát triển của dân tộc, các điều kiện hành chính cũng như kinh tế xã hội đã làm cho ngôn ngữ biến đổi, và do đó địa danh cũng phải biến đổi theo. Bình Định cũng mang đầy đủ những đặc điểm đó của địa danh Việt Nam.

Ngoài ra thì với những địa danh như tên của các sông, núi thường được gọi theo từng đoạn khác nhau dễ gây nên những hiện tượng nhầm lẫn. Đó là do sự hán chế về quá trình giao lưu kinh tế và văn hóa trước đây.

Một đặc điểm khác trong đia danh Việt Nam là đôi khi cũng có hiện tượng trùng tên dễ gây nhầm lẫn. Hiện tượng này cũng có thể xảy ra ở cùng một hiện tượng địa lý hay các hiện tượng địa lý khác nhau: Địa danh nước ta lại bị phức tạp hóa do ngôn ngữ dân tộc, làm cho việc nghiên cứu phải tìm hiểu kỹ lưỡng. Ví dụ: Đồ Bàn, Chà Bàn…

Ngoài các ngôn ngữ nội bộ khá đa dạng, địa danh Việt Nam ở khu vực Nam Trung bộ nói chung và ở Bình Định nói riêng còn bị phức tạp hhơn nữa do ảnh hưởng bởi các nhân tố ngoại lai trực tiếp hay gián tiếp, có ý thức hay không có ý thức nữa.

Tóm lại địa danh Việt Nam thật phức tạp do quá trình phát triển lâu dài của lịch sử dân tộc, của sự hòa nhập giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc; đồng  thời, lại chiu ảnh hưởng sâu sắc của yếu tố ngoại lai. Do đó, ngoài tính đặc thù của nó địa danh Việt Nam cũng chịu nhiều dấu vết của ngôn ngữ và địa danh của Đông Nam Á hay xa rộng hơn nữa.

2.2. Kết quả điều tra địa danh tỉnh Bình Định

2.1. Địa danh hành chính cấp huyện, xã

2.1.1. Bảng phân loại

Tỉnh Bình Định gồm một thành phố trực thuộc tỉnh Quy Nhơn và 10 huyện:

Cấp hành chính

Tên địa danh

Tổng số

Thành phố

    Quy Nhơn

1

Phường

    Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Văn Cừ, Đống Đa, Thị Nại, Hải Cảng, Ngô Mây, Ghềnh Ráng, Quang Trung, Nhơn Bình, Nhơn Phú, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu.

16

     An Dũng, An Hòa, An Dung, An Nghĩa, An Quang, An Tân, An Toàn, An Trung, An Vinh.

      Nhơn Thành, Nhơn Mỹ, Nhơn Hạnh, Nhơn Phong, Nhơn Hậu, Nhơn An, Nhơn Hưng, Nhơn Phúc, Nhơn Khánh, Nhơn Lộc, Nhơn Hòa, Nhơn Thọ, Nhơn Tân.

       Ân Tường Đông, Ân Tường Tây, Ân Hữu, Ân Đức, Ân Nghĩa, Ân Phong, Ân Hạnh, Ân Tín, Ân Hảo Đông, Ân Hải Tây, Bok Tới, Đăk Mang, Ân Sơn, Ân Mỹ.

       Hoài Sơn, Hoài Châu, Hoài Châu Bắc, Hoài Phú, Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam, Hoài Hảo, Hoài Thanh, Hoài Thanh Tây, Hoài Hương, Hoài Tân, Hoài Hải, Hoài Xuân, Hoài Mỹ, Hoài Đức.

       Cát Sơn, Cát Minh, Cát Tài, Cát Khánh, Cát Lâm, Cát Hanh, Cát Thành, Cát Hải, Cát Hiệp, Cát Trinh, Cát Nhơn, Cát Hưng, Cát Tường, Cát Tân, Cát Tiến, Cát Thắng, Cát Chánh.

        Mỹ An, Mỹ Cát, Mỹ Chánh, Mỹ Chánh Tây, Mỹ Châu, Mỹ Đức, Mỹ Hiệp, Mỹ Hòa, Mỹ Lộc, Mỹ Lợi, Mỹ Phong, Mỹ Quang, Mỹ Tài, Mỹ Thành, Mỹ Thọ, Mỹ Thắng, Mỹ Trinh.

        Bình Hòa, Bình Hiệp, Bình Nghi, Bình Tân, Bình Thành, Bình Thuận, Bình Tường, Tây An, Tây Bình, Tây Giang, Tây Phú, Tây Thuận, Tây Vinh, Tây Xuân, Vĩnh An.

        Phước An, Phước Hiệp, Phước Hòa, Phước Hưng, Phước Lộc, Phước Nghĩa, Phước Quang, Phước Sơn, Phước Thắng, Phước Thành, Phước Thuận.

        Canh Hiển, Canh Hiệp, Canh Hòa, Canh Liên, Canh Thuận, Canh Vinh.

        Vĩnh Hảo, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Hòa, Vĩnh Kim, Vĩnh Quang, Vĩnh Sơn, Vĩnh Thịnh.

124

Thị trấn

         Bình Định, Đập Đá, An Lão, Tăng Bạt Hổ, Bồng Sơn, Tam Quan, Ngô Mây, Phù Mỹ, Bình Dương, Diêu Trì, Tuy Phước, Phú Phong, Vân Canh, Vĩnh Thạnh.

 

14

(Xem tiếp phần sau..)

Powered by Vnweblogs.com

Quy Nhơn, một thời thơ ấu

đăng 19:56, 5 thg 4, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 11:01, 16 thg 9, 2014 ]

Tôi cất tiếng khóc chào đời nơi cuối dòng sông Latinh chảy ra đầm Đề Gi thuộc huyện Phù Mỹ. Chiến tranh khốc liệt của ba quận bắc Bình Định ngày đó là Tam Quan, Bồng Sơn và Phù Mỹ là nguyên do để gia đình tôi trôi dạt và định cư tại Quy Nhơn.

 

Mảnh đất Quy Nhơn đón tôi khi hãy còn bé. Qua bao biến cố và dòng thời gian trôi nhanh, từ một cậu bé tôi đã trưởng thành. Quy Nhơn còn đọng lại trong tiềm thức của tôi về một quãng thời gian đẹp nhất của một đời người.

 

Ngày ấy…

 

Vừa chân ướt chân ráo đến Quy Nhơn, việc cha tôi quan tâm nhất là việc học của con cái. Vốn là người một chữ cắn đôi cũng không biết, nhưng trong con người ông luôn coi trọng việc chữ nghĩa. Câu nói mà anh em tôi thường nghe vẫn là “Của như non không bằng cho con ba chữ”.

 

Ông dẫn hai đứa con lem luốc đến trường Nguyễn Trường Tộ để xin học (nay là THCS Đống Đa ở gần chợ Tháp Đôi). Đây là trường Tiểu học cộng đồng như loại hình trường công ngày nay. Chắc có lẽ cũng vì tuyển theo tuyến như bây giờ, hay do một điều gì đó mà thầy Hiệu trưởng không đồng ý nhận hai anh em tôi. Không phải là người Quy Nhơn. Không có một miếng giấy lận lưng. Ba cha con tôi lặng lẽ bước những bước chân nặng trĩu ra về.

 

Đi được mấy bước, tôi nghe thầy Phan Minh Phước nói với thầy Hiệu trưởng “Người ta có hai đứa, thầy nhận cho người ta một đứa, không thì cũng tội nghiệp cho mấy đứa nhỏ”.

 

Thầy Hiệu trưởng gọi ba cha con tôi lại. Thầy Hiệu trưởng nhìn tôi và không hiểu sao ông lại chọn và nhận tôi vào trường.

 

Tôi vào lớp 3 của cô Đỗ Thị Dưỡng là vợ thầy Phan Minh Phước. Ban đầu Cô cũng không biết tôi học hành thế nào và tôi thường xuyên gọi lên bảng trả bài. Tháng đầu tiên tôi xếp vị thứ là 30/40 học sinh. Tháng sau tôi xếp ở vị trí 10/40 và sau vài tháng tôi xếp vị thứ 1/40. Sau 3 năm học ở trường này tôi chưa bao giờ xếp vị thứ trên 5 cả.

 

Không ngờ chỉ một câu nói của thầy Phan Minh Phước mà cuộc đời tôi đã khác so với người anh của tôi. Vì học trường tư thục ngày ấy học phí cao so với gia đình mới ở quê vô, nên anh tôi phải bỏ học giữa chừng.

 

Câu nói của thầy Phước đối với tôi là câu nói “Sống để bụng, chết mang theo” trong cuộc đời.

 

Rồi tôi lớn lên…

 

Không có tiền mua đất cất nhà. Cha tôi phải lên chân núi Một (nay là Khu vực 2 Phường Đống Đa) phá núi lấy đất làm nhà. Anh em tôi trưởng thành từ mảnh đất chân núi ấy.

 

Tôi lớn lên, đi học một buổi và đi chài một buổi. Ngày đó, con sông Hà Thanh từ Cầu Đôi chạy xuống đến cầu chữ Y buổi chiều nước ròng rất nhiều cá. Loại cá Kiền, cá Đấu to bằng cổ tay chiều nào tôi cũng chài được cả giỏ. Vì là khu hay xảy ra chiến sự nên những người đi chài không ai dám ra khu vực Hưng Thạnh, sông Ba, sông Năm, đìa Ông Cha để chài. Chính nhờ điều này mà thu nhập từ việc đi chài đủ để nuôi con cái. Nhiều lần tôi đã gặp mấy anh du kích nhưng không nên nói lại với ai. Cha tôi căn dặn như thế (Khu vực Hưng Thạnh là nơi ngày 31/3/1975 Tỉnh ủy Bình Định và BCH Trung đoàn 93 đặt sở chỉ huy để chuẩn bị giải phóng thành phố Quy Nhơn).

 

Lộ trình Hưng Thạnh – sông Ba – đìa Ông Trấp – cầu Đôi cứ năm này tháng nọ qua đi trong tôi.

 

Khi con nước dưới biển hết tôi lại băng đồng đi chài cá nước ngọt. Từ Cầu Đôi lên chợ Dinh, rồi cầu số 7, cầu số 8, cầu Trường Úc… Cầu số 7 có đặc điểm là bùn cá trê rất nhiều. Cầu số 8, cầu Trường Úc đất cát sạch nên chỉ có cá chép và cá mè Luối . Từ cầu số 8 đi ra vùng Quảng Vân – Phước Thuận rồi ngả ba Phước Thuận – Phước Sơn khu vực này có đủ các loại cá chứ không có cá đặc thù. Nhiều khi vùng này cũng có chiến sự, có bữa vác chài chạy có cờ vì hai bên đánh nhau. Từ đây tôi băng đồng nhắm hướng Quy Nhơn mà về. Có một vị trí mà tôi không bao giờ bỏ sót là dòng sông chợ Dinh chảy về hướng Lương Nông (sau Giải phóng là Công ty Vật Tư Bình Định) có một khúc sông cạn mà tôi luôn chài bắt được cá chép đem bán cho dân ở khu vực này. Người thường mua cá chép nhất là một chủ quán ăn ở bến xe Chợ Dinh bây giờ.

 

Rồi ngả tư Tuy Phước… đi ra hướng Bắc có cầu 15, cầu 20, Huỳnh Mai – Phước Nghĩa với đặc sản cá phi rất nhiều. Chỉ cần chài chừng một lát là cá phi bằng hai ba ngón tay đầy giỏ, bán cho những người dân xung quanh cũng kiếm bộn tiền. Cá phi ở vùng này nước đục nên rất béo và mềm, người dân kho với nghệ lấy nước chấm với rau muống.

 

Quay lại ngả tư đi về hướng nam gặp QL1 là dịch Ông Đô, cầu xe lửa Diêu Trì. Đi lên hướng tây là chợ Huyện với đặc sản “nem chợ Huyện” nổi tiếng.

 

Sau giải phóng đất nước…

 

Từ bến đò Đống Đa tôi đi xuồng máy ra Đập Mới thuộc xã Cát Chánh – Phù Cát. Tôi lang thang chài dọc theo con sông Phú Hậu lên đập cây Bông, chợ Gò Chim. Rồi Lạc Điền – Phước Thắng giáp với Gò Bồi – Phước Hòa.

 

Sông Phú Hậu là con sông cát, nước đục rất nhiều cá chép. Mỗi ngày một lần tôi đều gửi cá về Quy Nhơn để bán.

 

Vùng đất Phú Hậu, Chánh Hữu, Chánh Đạt thuộc xã Cát Chánh có đặc sản là khoai lang. Khoai lang ở đây có vị ngọt và bùi rất độc đáo. Chợ Cách Thử nơi có Hòn vọng Phu trên núi là chợ chuyên bán khoai lang và sợi Trân dệt chiếu.

 

Dọc theo con sông Phú Hậu có một loại rau muống. Người dân gọi là rau muống tía (có màu tím). Loại rau muống này rất mềm và ăn rất ngon.

 

Hà An Mỹ

 

Nguồn: http://binhdinhngaynay.com/newsdetails.asp?NewsId=new_102125210704

Danh mục chùa TP Quy Nhơn tỉnh Bình Định

đăng 19:51, 5 thg 4, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 10:40, 16 thg 9, 2014 ]

Thành Phố Qui Nhơn 

Đăng bởiTrụ trì
Thứ Năm, 23/12/2010 | 05:29
Thành Phố Qui Nhơn

CHÙA GIÁO HỘI TỈNH

Địa chỉ                 : 141 Trần Cao Vân, Phường Trần Hưng Đạo.

Điện thoại           :820701

Năm tạo lập        :1936

Người sáng lập   : Hội An Nam Phật học tỉnh Bình Định.

Năm trùng tu      :1972, 2003.

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Văn phòng BTS Phật Giáo tỉnh.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Ban Quản trị.

Trụ trì hiện nay   : TT. Thích Nguyên Phước.

Các ngày kỵ giỗ trong năm: 17/11 ÂLngày hiệp kỵ GĐPT tỉnh.

CHÙA AN LONG

Địa chỉ                 : Khu vực 5, Phường Nhơn Phú.

Điện thoại           :848255

Năm tạo lập        :1963.

Người sáng lập   : Thích Như Lai(Nguyên Dương).

Năm trùng tu      :1998.

Hệ phái               :Bắc tông.

Đặc điểm             : Khuôn hội Phật giáo.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Thích Như Lai.

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Quảng Long.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:9/9 ÂL kỵ Tổ Khai sáng.

CHÙA BẠCH SA

Địa chỉ                 : 35 Biên Cương, Phường Ngô Mây.

Điện thoại           :524928

Năm tạo lập        :1917

Người sáng lập   : HT. Như Huệ - Hoằng Thông

Năm trùng tu      : 1958, 1996, 2005.

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Chánh điện cổ lầu.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: HT. Như Huệ - Hoằng Thông,TT. Thị NiệmGiác Nguyên.

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Đồng Trụ.

Các ngày kỵ giỗ trong năm: ÂL 7/12 kỵ HT. Thích Hoằng Thông, 7/3 kỵ HT. Thích Giác Nguyên.

TỊNH XÁ BẢO ÂN

Địa chỉ                 : Khu vực I, Phường Bùi Thị Xuân, Qui Nhơn.

Điện thoại           :841264

Năm tạo lập        :1969

Người sáng lập   : ĐĐ. Thích Giác Xuân

Năm trùng tu      :1998

Hệ phái               :Khất sĩ

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Giác Xuân.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:6/1 ÂL.

CHÙA BÌNH AN

Địa chỉ                 : Khu vực 2, Phường Nhơn Bình.

Điện thoại           :848287

Năm tạo lập        :1810

Người sáng lập   : HT. Ấn Lễ - Chí Nhân.

Năm trùng tu      : 1956, 1963, 1968, 1990

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :Cổ tự

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: HT. Ấn Lễ - Chí Nhơn, HT. Như Chí - Hoằng Chánh, HT. Như Lộc - Tường Vân, HT. Thị Châu - Từ Hàng.

Trụ trì hiện nay   : TT. Thích Đồng Chơn.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 4/9, 25/12.

CHÙA BÌNH LÂM

Địa chỉ                 : Khu vực 2, Phường Trần Quang Diệu.

Điện thoại           :741733

Năm tạo lập        :1952

Người sáng lập   : TT. Thích Minh Hương.

Năm trùng tu      :2001

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:BTG Đồng Dũng

Trụ trì hiện nay   : TT. Thích Minh Phương.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:01/5 ÂL.

CHÙA BÌNH TÂN

Địa chỉ                 : Khu vực 7, Phường Trần Quang Diệu.

Điện thoại           :641022

Năm tạo lập        :1968

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :Thích Trí Vân.

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Thích Đồng Dùng.

Trụ trì hiện nay   :Thích Trí Vân

Các ngày kỵ giỗ trong năm:30/4 Âl.

CHÙA BÌNH TÂY

Địa chỉ                 : Phường Trần Quang Diệu.

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Kiến trúc cổ

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Đồng Thanh

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA BÌNH THẠNH

Địa chỉ                 :

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   :

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

TỊNH XÁ BỬU MINH

Địa chỉ                 : Khu vực 7, Phường Lê Hồng Phong.

Điện thoại           :524250

Năm tạo lập        :1969

Người sáng lập   : TT. Thích Giác Thiên

Năm trùng tu      :1999

Hệ phái               :Khất Sĩ

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : TT. Thích Giác Thiên

Các ngày kỵ giỗ trong năm: 01/ 2 ÂL, kỵ Tôn sư Minh Đăng Quang.

CHÙA GIÁC HẢI (I)

Địa chỉ                 : Khu vực 3, Phường Đống Đa.

Điện thoại           :792619

Năm tạo lập        :1969

Người sáng lập   : HT. Thích Bảo An.

Năm trùng tu      :1984

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :CHÙA Hội

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Nhuận Bình

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA GIÁC HẢI (II)

Địa chỉ                 : Xã Nhơn Lý.

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   :ĐĐ. Thích Vạn Châu

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA GIÁC HẢI (III)

Địa chỉ                 : Khu vực, Phường Hải Cảng.

Năm tạo lập        :1958

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Ban hộ tự            :Dương Khít

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA HẢI LONG

Địa chỉ                 : Khu vực 9, Phường Hải Cảng.

Điện thoại           :2221543

Năm tạo lập        :1961

Người sáng lập  :Hòa thượng Thích Tâm Hoàn

Năm trùng tu      :1997

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Niệm Phật đường do Phật tử lập.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Quảng Giác

Các ngày kỵ giỗ trong năm:08/3 ÂL. (Húy kỵ Tổ sư Thích Tâm Hoàn)

CHÙA HIỂN NAM

Địa chỉ                 : 67 Võ Mười, Phường Ngô Mây.

Điện thoại           :812767

Năm tạo lập        :1900.

Người sáng lập   : Lão sư Đặng Vận Hoằng.

Năm trùng tu      :1958, 1998.

Hệ phái               :Bắc tông.

Đặc điểm             : Gốc từ CHÙA Tam Giáo.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: Lão sư Đặng Vận Hoằng, Lão sư Đặng Vĩnh Ý, TT. Chơn Tôn.

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Quảng Châu.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA HÒA ĐỒNG

Địa chỉ                 : Khu vực 2, Phường Ghềnh Ráng

Năm tạo lập        :1965

Người sáng lập   : PT Mai Thọ PD Như Bạch

Năm trùng tu      : 1989, 1991, 1999, 2002

Hệ phái               :Bắc Tông

Đặc điểm             : Niệm Phật đường

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Ban Đại diện.

Ban hộ tự            : Đh. Mai Ngọc Thắng.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:Các ngày Lễ lớn trong năm.

CHÙA HÒA ĐỒNG

Địa chỉ                 : Khu vực 2, Phường Quang Trung.

Năm tạo lập        :1963

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Ban hộ tự            : Cư sĩ Nguyễn Đức Hùng

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA HƯNG THẠNH

Địa chỉ                 : Khu vực 9, Phường Đống Đa.

Điện thoại           :814707

Năm tạo lập        :1958

Người sáng lập   : Thầy Dương Từ Hàng.

Năm trùng tu      :1972

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :CHÙA Hội

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Quản tự               : Cư sĩ Võ thanh Nhàn.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA HƯƠNG MAI

Địa chỉ                 : Thôn Hải Nam, xã Nhơn Hải

Điện thoại           :844425

Năm tạo lập        :1920.

Người sáng lập   :Dân làng.

Người khai sơn: HT. Tâm Hoàn - Huệ Long.

Năm trùng tu      :1960, 2002

Hệ phái               :Bắc tông.

Đặc điểm             : xây để thờ tượng Phật được từ biển.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Ban hộ tự.

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Quảng Thức.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA HƯNG PHƯỚC

Địa chỉ                 : Thôn Lương Nông, xã Nhơn Bình

Năm tạo lập        :1924

Người sáng lập   : HT. Như Huệ - Hoằng Thông

Năm trùng tu      :1989

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Cải gia vi tự

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:HT. Thích Giác Đạo

Quản tự               : Ban Hộ tự.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA LIÊN HOA

Địa chỉ                 : khu vực 8, P. Bùi thị Xuân, TP Qui Nhơn.

Điện thoại           :510581

Năm tạo lập        :1970

Người sáng lập   : HT. Tâm Hoàn - Huệ Long.

Năm trùng tu      : năm 2004, Thượng tọa Thích Nguyên Chơn thiên di từ Phú Tài đến dốc Ông Phật như hiện nay.

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : CHÙA nằm trên đồi dốc cao có tượng Phật từ trước nên mang theo địa danh là dốc Ông Phật. Có đạo tràng niệm Phật hằng tháng, Phật tử hơn 400 người.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Thích Nguyên Đại.

Trụ trì hiện nay   : Thượng tọa Thích Nguyên Chơn.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:07/3 ÂL

CHÙA LONG KHÁNH

Địa chỉ                 : 141 Trần Cao Vân, Phường Trần Hưng Đạo

Điện thoại           :821174

Năm tạo lập        :1709

Người sáng lập   :HT. Đức Sơn

Năm trùng tu      :1957, 2005

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Danh lam, Một trong những Tổ đình lớn của dòng Lâm tế Liễu Quán. Nơi diễn ra các Phật sự trọng đại của tỉnh nhà.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: Tổ sư Hải Khiển - Đức Sơn, HT. Tế Thành - Lộc Kỳ, HT. Tịch Thọ - Trinh Tường, HT. Tánh Tông - Thiên Khánh, HT. Hải Huệ - Chánh Đạo, HT. Hải Hội - Chánh Nguyên, HT. Hải Khoát - Chí Thanh, HT. Thanh Cần- Quảng Diễn, HT. Trừng Chấn - Chánh Nhơn, Đại sư Tâm Không - Huệ Phước, Đại sư Tâm Luật - Huệ Lãng, HT. Tâm Hoàn- Huệ Long.

Trụ trì hiện nay   : TT. Thích Nguyên Phước.

Các ngày kỵ giỗ trong năm: ÂL 6/3kỵ HT. Thích Tâm Hoàn, 26/11 tảo tháp.

CHÙA LONG THẠNH

Địa chỉ                 : Khu vực 6, Phường Nhơn Bình.

Điện thoại           :848355

Năm tạo lập        :1928

Người sáng lập   : HT. Trừng Chấn - Chánh Nhơn.

Năm trùng tu      :1994

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :Cổ tự.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: Đại sư Như Thọ - Hoằng Khai, Đại sư Như Tại - Chánh Tín, Đại sư Trừng Chiêm - Chánh Lễ, Đại sư Tâm Dung - Huệ Nhật.

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Quảng Cảnh

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 8/2, 8/12, 23/5.

CHÙA LINH SƠN (NI)

Địa chỉ                 : Khu vực 7, Phường Nhơn Phú.

Năm tạo lập        :1918

Người sáng lập   : Thầy Nguyễn Mạch.

Năm trùng tu      :2004

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :Cổ tự.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: Thầy Ba, ĐĐ. Thích Thông Tịnh.

Trụ trì hiện nay   : Thích Nữ Hạnh Viên.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:3/3 ÂL.

CHÙA LINH SƠN

Địa chỉ                 : thôn Hải Giang, xã Nhơn Hải.

Năm tạo lập        :1913

Người sáng lập   : Nhân dân địa phương xã.

Người khai sơn  : Đại sư Đồng Quán - Phước Hải.

Năm trùng tu      :1940

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Xây để thờ một tượng lồi từ đất lên.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Đại sư Thích Đồng Quán

Quản tự               : Đh Võ Hạp.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA LINH THỨU

Địa chỉ                 : Khu vực, Phường Đống Đa. 

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   : Phật tử địa phương

Năm trùng tu      :1992

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : CHÙA Khuôn hội

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Ban hộ tự

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Quảng Nhàn

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA LỘC UYỂN

Địa chỉ                 : Khu vực 1, Phường Quang Trung.

Điện thoại           :846235

Năm tạo lập        :1936

Người sáng lập   : Phật tử Khuôn hội.

Năm trùng tu      :1964, 2004

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : CHÙA Khuôn hội Phật giáo.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : NT. Thích Nữ Hạnh Nghiêm.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 9/2, 18/6.

CHÙA MINH LỘC

Địa chỉ                 : Xã Nhơn Phú.

Năm tạo lập        :1960 :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Như Bỗng.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA MINH TỊNH

Địa chỉ                 : 35 Hàm Nghi, Phường Ngô Mây.

Điện thoại           :522236

Năm tạo lập        :1907

Người sáng lập   : HT. Chơn Phước - Huệ Pháp

Năm trùng tu      :1963, 2003

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Tổ đình, kiến trúc cổ độc đáo, chánh điện mái âm dương màu xanh, có bảo tháp 9 tầng.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:HT. Chơn Phước - Huệ Pháp.

Trụ trì hiện nay   : TT. Thích Trí Giác.

Các ngày kỵ giỗ trong năm: ÂL 25/10, 11/11 kỵ Tổ Khai sơn.

CHÙA MỸ LONG

Địa chỉ                 : thôn Nhơn Mỹ, xã Nhơn Phú

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :1960

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Nguyên Phước.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA NAM THẠNH

Địa chỉ                 : Khu vực 4, Phường Trần Quang Diệu

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :1998

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Nguyên Thọ.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA NHÂN QUẢ

Địa chỉ                 : đường Hàn Mặc Tử, Phường Ghềnh Ráng.

Năm tạo lập        :1967

Người sáng lập   : Thầy Tôn Thất Chưởng và nhóm Phật tử

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Bắc tông.

Đặc điểm             : Niệm Phật đường.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Giám tự Lê Ngân.

Trụ trì hiện nay   : SC. Thích Nữ Minh Pháp.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:12/4 ÂL.

CHÙA NI LIÊN

Địa chỉ                 : 97 Trần Hưng Đạo.

Điện thoại           :893838

Năm tạo lập        :1943

Người sáng lập   : Cụ Trần Tố và Chư Phật tử

Năm trùng tu      : 1963, 2000. 2005

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Khuôn hội Hải Cảng

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: ĐĐ. Thích Viên Chủng, NS. Thích nữ Diệu Thọ.

Trụ trì hiện nay   : SC. Thích nữ Minh Uyên.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 3/2, 17/11.

NIỆM PHẬT ĐƯỜNG NGUYỄN HUỆ

Địa chỉ                 : 54 Nguyễn Lạc, Khu vực 5, P. Trần Phú.

Điện thoại           :811739

Năm tạo lập        :1969

Người sáng lập   :Nhóm Phật tử.

Năm trùng tu      :1997

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Niệm Phật đường.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Ban hộ tự            : Đh Nguyễn Đến.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

TỊNH XÁ NGỌC BỬU

Địa chỉ                 : Phường Đống Đa.

Điện thoại           :791233

Năm tạo lập        :1987

Người sáng lập   : Thích nữTrung Liên.

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Khất Sĩ.

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : Thích nữ Trung Liên.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

TỊNH XÁ NGỌC CHÂU

Địa chỉ                 : thôn Đông, Xã Nhơn Châu.

Điện thoại           :844110

Năm tạo lập        :1969

Người sáng lập   : NS. Thích nữ Hành Liên.

Năm trùng tu         : 1981, 2006.

Hệ phái               :Khất sĩ.

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay : SC. Thích nữ Hành Liên.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

TỊNH XÁ NGỌC ĐỊNH

Địa chỉ                 : Khu vực, Phường Bùi Thị Xuân.

Năm tạo lập        :1988

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : SC. Thích nữ Liên Hỷ.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

TỊNH XÁ NGỌC HÒA

Địa chỉ                 : thôn Lý Lương, xã Nhơn Lý.

Điện thoại           :845583

Năm tạo lập        :1960

Người sáng lập   : Trưởng lão Thích Giác An.

Năm trùng tu      :1995

Hệ phái               :Khất sĩ

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: Sư Thiện Khang, Sư Giác Đạt, Giác Tọai, Giác Nhẫn.

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Giác Hậu.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

TỊNH XÁ NGỌC NHƠN (I)

Địa chỉ                 : 999 Trần Hưng Đạo, Phường Đống Đa.

Điện thoại           :792884

Năm tạo lập        :1959.

Người sáng lập   : TT. Thích Giác Tịnh.

Năm trùng tu      :1991

Hệ phái               :Khất Sĩ

Đặc điểm             : Tịnh xá Khất sĩ đầu tiên của tỉnh.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : Thượng tọa Thích Giác Tịnh.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 1/2, 22/11.

TỊNH XÁ NGỌC NHƠN (II)

Địa chỉ                 : Khu vực 6, Phường Đống Đa.

Điện thoại           :793108

Năm tạo lập        :1978

Người sáng lập   : TT. Thích Giác Tịnh.

Năm trùng tu      :2005

Hệ phái               :Khất Sĩ.

Đặc điểm             : Cải gia vi tự.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:TT. Thích Giác Tịnh.

Trụ trì hiện nay   : SC. Thích nữ Ái Liên.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:21/7 ÂL.

TỊNH XÁ NGỌC NHUẬN

Địa chỉ                 : 05 Ngô Quyền, Phường Trần Hưng Đạo

Năm tạo lập        :1962.

Điện thoại           :815616

Người sáng lập   : NT. Thích nữ Huỳnh Liên.

Năm trùng tu      :1969, 2004.

Hệ phái               :Khất sĩ.

Đặc điểm             : Tịnh xá Khất sĩ Ni đầu tiên của tỉnh.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: NS. Phan Liên, NS. Tráng Liên, NS.Mân Liên.

Trụ trì hiện nay   : SC. Thích nữ Liên Liên

Các ngày kỵ giỗ trong năm:10/2 ÂL.

TỊNH THẤT NGỌC SƠN

Địa chỉ                 : Khu vực 5, Phường Đống Đa.

Điện thoại           :792726

Năm tạo lập        :1983

Người sáng lập   : Thích nữ Điền Liên.

Năm trùng tu      :2001

Hệ phái               :Khất sĩ

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : SC. Thích nữ Điền Liên.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 1/8, 5/12.

TỊNH THẤT NGỌC THIỀN

Địa chỉ                 : Khu vực 7, Phường Bùi thị Xuân.

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :Năm trùng tu

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : SC. Thích nữ Liên Hiền.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA PHƯỚC CHÂU

Địa chỉ                 : Xã Nhơn Châu.

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Quản tự               :Ban hộ tự

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA PHƯỚC HƯNG

Địa chỉ                 : thôn Hưng Lương, xã Nhơn Lý.

Điện thoại           :845541

Năm tạo lập        :1961

Người sáng lập   :HT. Như Từ - Tâm Đạt

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Đồng Quả.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA PHƯỚC LONG

Địa chỉ                 : thôn Phú Hoà, xã Nhơn Phú

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :1960

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Từ Nghiêm.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA PHƯỚC SA

Địa chỉ                 : thôn Trung Lý, xã Nhơn Lý.

Năm tạo lập        :1935

Người sáng lập   :HT. Như Từ - Tâm Đạt

Năm trùng tu      :1968

Hệ phái               :Bắc tông.

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:ĐĐ. Thích Đồng Nhiên.

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Đồng Tín.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

TỊNH THẤT PHÁP ẤN

Địa chỉ                 : Khu vực 1, Phường Đống Đa.

Điện thoại           :791853

Năm tạo lập        :1994

Người sáng lập   : SC. Thích nữ Hạnh Mẫn.

Năm trùng tu      :2002

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Cải gia vi tự.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : SC. Thích nữ Hạnh Mẫn.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 28/1, 12/5.

CHÙA PHÚ THỌ

Địa chỉ                 : Khu vực 7, Phường Bùi Thị Xuân.

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :1996

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Ban hộ tự            : Đh Trần Duy Tín.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

TỊNH XÁ QUAN ÂM

Địa chỉ                 : Khu vực 5, Phường Nhơn Phú.

Điện thoại           :848825

Năm tạo lập        :1965

Người sáng lập   : ĐĐ. Thích Giác Sáng.

Năm trùng tu      :1994

Hệ phái               :Khất Sĩ

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Giác Sáng.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:Các ngày Lễ lớn trong năm.

CHÙA SƠN LONG

Địa chỉ                 : thôn Thuận Nghi, xã Nhơn Bình

Điện thoại           :848293

Năm tạo lập        :1744

Người sáng lập   : Tổ sư Thiệt Đăng - Bửu Quang.

Năm trùng tu      :1958, 2003

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Cổ tự, một trong những Tổ đình lớn của Thiền phái Lâm Tế Minh Hải - Pháp Bảo.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: Tổ Thiệt Đăng - Bửu Quang, HT. Tịch Lý - Thanh Thiện, HT. Chương Nghĩa - Thanh Nguyên, HT. Ấn Hải - Viên Thông, HT. Ấn Hoàn - Thiện Hoà, HT. Chơn Định - Chí Hạnh, HT. Chơn Tâm - Phước Quang, HT. Như Tại - Hoằng Liễu, HT. Như Chất - Hoằng Ngữ, HT. Thị Đạo - Bình Khánh, HT. Thị Sa - Bình Chánh.

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Đồng Đức.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 21/1, 04/3, 07/6.

CHÙA TÂM ẤN

Địa chỉ                 : 58 Ngô Quyền, Phường Lê Lợi.

Điện thoại           :824848

Năm tạo lập        :1940

Người sáng lập   : NT. Thích Nữ Tâm Hoa.

Năm trùng tu      :1954, 1990

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Danh lam, tổ đường có bảo tháp 7 tầng. Nơi diễn ra các Phật sự trọng đại của Ni giới Bình định.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : NT. Thích nữ Tâm Hoa.

Các ngày kỵ giỗ trong năm: ÂL 22/01 Kỵ HT. Bổn sư Tăng Thống Thích Tịnh Khiết,20/4, 23/4, 28/9.

CHÙA TĂNG QUANG

Địa chỉ                 : 160/1 Lê Hồng Phong, Phường Lê Lợi

Điện thoại           :813451

Năm tạo lập        :1912

Người sáng lập   : HT. Tâm Chơn - Huệ Khai

Năm trùng tu      :1967

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Nguyên là CHÙA Sắc tứ Tam giáo tự (thờ Phật, Lão, Khổng).

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:HT. Tâm Chơn - Huệ Khai.

Trụ trì hiện nay   : NS. Thích nữ Hạnh Minh.

Các ngày kỵ giỗ trong năm: ÂL 14/06 Kỵ HT. Tâm Chơn - Huệ Khai, 28/10.

CHÙA THANH LONG

Địa chỉ                 : Khu vực 4, Phường Trần Quang Diệu.

Năm tạo lập        :1940

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :1969

Hệ phái               :Bắc tông.

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Ni Sư Thích Nữ Thị Nghiêm.

Trụ trì hiện nay   : Sư cô Thích nữ Đồng Diệu.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 12/2, 23/3, 9/12, 2/3.

CHÙA THANH PHƯỚC

Địa chỉ                 : thôn Tây Mỹ, xã Nhơn Châu.

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :1989

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : nơi sinh hoạt của Phật tử xã đảo.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Ban hộ tự            :Đh Trần Phả.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA THÁP ĐÔI

Địa chỉ                 : Khu vực 3, Phường Đống Đa.

Điện thoại           :791712

Năm tạo lập        :1962

Người sáng lập   : Ban hộ tự tiền nhơn.

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : CHÙA Khuôn hội Phật giáo Tháp Đôi, CHÙA nằm cạnh cụm tháp đôi Chiêm Thành, mang tên ngôi tháp cổ.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   : SC. Thích nữ Hạnh Giáo.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:20/4 ÂL.

CHÙA THIÊN LONG

Địa chỉ                 : Khu vực 6,Phường Trần Quang Diệu.

Điện thoại           :741744

Năm tạo lập        :1930

Người sáng lập   : TT. Thích Linh Thắng

Năm trùng tu      :1969, 1996

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : Nguyên là Thảo am.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm: TT. Thích Linh Thắng, Thích Trí Độ.

Trụ trì hiện nay   :ĐĐ. Thích Trí Huệ.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:ÂL 12/10, 12/12.

CHÙA TỪ HẢI

Địa chỉ                 : 96 Bạch Đằng, Khu vực 3, P. Hải Cảng.

Điện thoại           :818463

Năm tạo lập        :1963

Người sáng lập   :Chư Phật tử.

Năm trùng tu      :1995

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : CHÙA Khuôn hội Phật giáo.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Quản tự               : Ban hộ tự.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA TRÚC LÂM

Địa chỉ                 : 512 Trần Hưng Đạo, P. Trần Hưng Đạo.   

Điện thoại           :812577

Năm tạo lập        :1959

Người sáng lập   :Chư Phật tử.

Năm trùng tu      :2005

Hệ phái               :Bắc tông.

Đặc điểm             : CHÙA Khuôn hội Phật giáo, Tuệ tĩnh đường của PG tỉnh Bình Định.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:Ban hộ tự.

Trụ trì hiện nay   : ĐĐ. Thích Quảng Thuận

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA VĨNH LỘC

Địa chỉ                 :

Năm tạo lập        :

Người sáng lập   :

Năm trùng tu      :

Hệ phái               :

Đặc điểm             :

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Trụ trì hiện nay   :

Các ngày kỵ giỗ trong năm:

CHÙA XÁ VỆ

Địa chỉ                 : 239/10 Nguyễn Huệ, khu vực 3, P. Trần Phú.

Điện thoại           :827926

Năm tạo lập        :1954.

Người sáng lập   : Cư sĩ Dương văn Tư.

Năm trùng tu      :1960

Hệ phái               :Bắc tông

Đặc điểm             : CHÙA Khuôn hội Phật giáo.

Chư vị Trụ trì tiền nhiệm:

Ban hộ tự : PT Thiện Minh Mai Xuân Tin.

Các ngày kỵ giỗ trong năm:Các ngày Lễ lớn trong năm.


Nguồn http://www.todinhlongkhanh.com/thanh-pho-qui-nhon-2010-12-22.aspx

Trang phục người Bình Định xưa

đăng 19:48, 5 thg 4, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 11:08, 16 thg 9, 2014 ]

Nói về trang phục của người Đàng Trong, bao gồm cả Bình Định, một nhà truyền giáo phương Tây tên là Borri, từng đến vùng Nước Mặn (nay là xã Phước Quang - Tuy Phước) vào thế kỷ thứ 16-17 đã chép: 

"... Về nữ, trong cách mặc không để lộ một phần nào trong thân thể, ngay cả trong mùa nóng nực nhất. Họ mặc tới năm hay sáu váy lục trơn, cái nọ chồng lên cái kia và tất cả có màu sắc khác nhau, cái thứ nhất phủ dài xuống chấm đất, khi đi họ kéo lên rất trịnh trọng, khéo léo và uy nghiêm đến nỗi không thấy đầu ngón chân. Sau đó là cái thứ hai ngắn hơn cái thứ nhất chừng bốn hay năm đốt ngón tay, rồi cái thứ ba ngắn hơn cái thứ hai và cứ thế cho đến cái còn lại, cái nọ ngắn hơn cái kia theo cùng tỉ lệ để cho màu sắc đều được phô bày trong sự khác biệt của mỗi tấm. Đó là thứ phái nữ mặc từ thắt lưng xuống bên dưới. Còn trên thân mình thì họ khoác vắt chéo như bàn cờ với nhiều màu sắc khác nhau, phủ lên trên là một tấm voan rất mịn và mỏng cho người ta nhìn thấy tất cả màu sắc sặc sỡ chẳng khác mùa xuân vui tươi và duyên dáng, nhưng không kém trịnh trọng giản dị.

... Đàn ông thì không nai nịt, nhưng quàng cả một tấm, rồi cũng thêm năm hay sáu áo dài và rộng. Tất cả đều bằng lụa màu sắc khác nhau với áo tay rộng và dài như ống tay các tu sĩ Biển Đức. Còn từ thắt lưng trở xuống đều sắp đặt các màu sắc rất khéo và đẹp. Thế nên khi ra phố thì họ phô trương màu sắc hài hòa, nếu có gió nhẹ thổi từ bên trong làm tung bay thì thực ra có thể nói là những con công xoay tròn khoe màu sắc đẹp của mình.

Các văn nhân và tiến sĩ ăn mặc trịnh trọng hơn, không màu mè lòe loẹt. Họ choàng lên trên tất cả một áo dài đen. Họ còn khoác một thứ khăn quấn cổ và cổ tay một khăn bằng lụa màu da trời, còn đầu thì thường đội một thứ mũ kiểu như mũ giám mục. Cả đàn ông, đàn bà đều ưa cầm quạt rất giống như châu Âu. Họ cầm là cầm lấy lệ thôi. Người châu Âu khi để tang thì mặc đồ đen, còn họ thì dùng màu trắng...".

Đối sánh với tư liệu mà chúng tôi tìm thấy trong một số ngôi mộ cổ khai quật năm 1986 tại các xã Cát Hanh và Cát Hưng - Phù Cát có niên đại vào thế kỷ 17-18 thì những ghi chép trên của Borri là khá chân thực. Người Bình Định giai đoạn này, đàn ông mặc áo tay thụng 6-7 lớp, quần dây rút ngắn ngang gối, đầu đội khăn chít hình chữ nhân màu đen, đàn bà mặc áo dài cổ thấp, ống tay bó, đi guốc quai dọc mũi cong hình thuyền.

. TS. Đinh Bá Hòa

Quy Nhơn trước 1975

đăng 19:39, 5 thg 4, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 11:00, 16 thg 9, 2014 ]

Sau hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh (từ 9-12 tháng 5 năm 1967), sáng 17/5/1967 đồng chí Nguyễn Xuân Hữu (bí danh là Bảy Râu) Uỷ viên thường vụ Khu uỷ 5 thay mặt thường vụ Khu uỷ phổ biến cho đồng chí Nguyễn Trung Tín (bí danh Toàn), Bí thư Tỉnh uỷ và tôi - Tô Đình Cơ (bí danh là Văn Tiến) Phó Bí thư Tỉnh uỷ về kế hoạch chuẩn bị “đón thời cơ”. Đồng chí Nguyễn Xuân Hữu bàn với đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ chỉ định Đảng uỷ hoạt động:

Về phía tỉnh có: Đồng chí Tô Đình Cơ, Phó bí Thư Tỉnh uỷ; đồng chí Biên Cương (tức Nguyễn Phụng Khuông) Uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thị uỷ Quy Nhơn, đồng chí Đinh Bá lộc (bí danh Cường) chủ nhiệm chính trị Tỉnh đội Bình Định.

Về phía Sư III/ E12: có đồng chí Hoài, Chính uỷ; đồng chí Hồng, Trung Đoàn trưởng; đồng chí Vợi, phó Chính uỷ trung đoàn. 

Đảng uỷ hoạt động do đồng chí Tô Đình Cơ làm Bí thư Đảng uỷ, đồng chí Hoài làm Phó bí Thư Đảng uỷ và khi hoạt động tại địa phương nào sẽ bổ sung đồng chí Bí thư Huyện uỷ huyện đó vào Đảng uỷ để thống nhất sử dụng lực lượng hoạt động địa phương.

Đảng uỷ phân công trách nhiệm cụ thể cho từng người; Đồng chí Biên Cương lãnh đạo Thị uỷ Quy Nhơn, lo việc khôi phục và mở rộng cơ sở vùng ven nội thị; xây dựng công sự mật ở cả Hưng Thạnh, Đông Định, Lương Nông vành đai Quy Nhơn và nội thị trong nhà những cơ sở tin cậy. Đồng chí Đinh Bá Lộc chỉ huy Đ10, D50 vượt núi Bà vào khu Đông chỉ đạo lực lượng tỉnh phối hợp lực lượng vũ trang của các huyện khu Đông đóng chân trên địa bàn khôi phục lại thế làm chủ và tranh chấp vùng này. Đồng chí Tô Đình Cơ cùng với đồng chí Hoài, Hồng, Vợi lãnh đạo và chỉ đạo E12 phối hợp với lực lượng vũ trang, chính trị của các huyện Phù Mỹ, Phù Cát khôi phục các vùng ven biển từ bắc Phù Mỹ vào đến Cát Minh - Phù cát.

Ta mở màn bằng pháo kích đơn vị dù 173 Mỹ tại Đèo Nhông, cắt cầu Bắc Dương từ đường số 1 xuống các xã Mỹ Lợi, Mỹ Thắng và tấn công vào Thị Trấn Phù Mỹ nhằm thu hút lực lượng địch tập trung đối phó với quân đội địch tại Đèo Nhông vào quận Lỵ Phù Mỹ, tạo sơ hở cho ta khôi phục lại thế làm chủ các xã Mỹ Lợi, Mỹ Thắng, Mỹ Thọ, Mỹ Cát và các thôn An Lương, An Hoan( Mỹ Chánh). Thừa thắng, E12/FIII phát triển sang Phù Cát, sử dụng đội công tác Cát Minh và lực lượng Huyện đứng chân tại đây khôi phục thế làm chủ với những mức độ khác nhau các thôn Đức Phổ, Xuân An, Trung An. Thế là trong vòng một tháng chúng ta đã cơ bản khôi phục lại phong trào từ cái xã vùng biển Phù Mỹ và các thôn ven Đầm Đề Gi giáp rìa Núi Bà.

Ngày 26-6-1967, D6/E12 do anh vợi Phó Chính uỷ trung đoàn 12 chỉ huy đi cùng với tôi vượt Núi Bà vào khu Đông phối hợp với lực lượng của Tỉnh và các huyện xã Đông nam Phù Cát, đông An Nhơn, đông Tuy Phước và Quy Nhơn tiếp tục khôi phục hành lang, bàn đạp đến các thôn vành đai Quy Nhơn. Với thắng lợi này hãng thông tấn My AP bình luận : “Việt Cộng cắm cờ trên cái nôi của chương trình “bình định” của Cômơ (Rober Komer) 100/114 thôn của huyện Tuy Phước coi như đã “bình định” bị mất sạch”...

Từ 1 - 8/11/1967, Tỉnh uỷ tổ chức cuộc họp mở rộng có đoàn cán bộ các ngành của khu và đại diện thường vụ khu uỷ tham dự quán triệt Nghị quyết Bộ Chính Trị (tháng 6-1967) và Nghi quyết Khu uỷ (tháng 9-1967). Hội nghị đề ra phương hướng nhiệm vụ sắp đến của đảng bộ: “Động viên toàn đảng bộ và nhân dân đoàn kết nỗ lực phi thường quyết tâm thực hiện nhiệm vụ công kích và khởi nghĩa bằng 3 mặt giáp công thật mạnh mẽ để phối hợp với toàn khu và toàn miền hoàn thành nhiệm vụ trong xuân 1968”.

Hội nghị lập ban cán sự khu Đông gồm các đồng chí: Biên Cương; Nguyễn Đức Hương, tỉnh độ trưởng; Đinh Bá Lộc, Chủ nhiệm ban chính trị Tỉnh độ do đồng chí Tô Đình Cơ, phó bí thư Tỉnh uỷ làm Bí thư ban cán sự giúp thường vụ chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các công tác chuẩn bị hoạt động tại khu Đông và tấn công nổi dậy ở Quy Nhơn.
Thường vụ điều động các đồng chí Tỉnh uỷ viên và 13 cán bộ chủ chốt các ngành của Tỉnh tăng cường khu Đông, chuyển 6 cán bộ hợp pháp nữ gồm một đồng chí thường vụ Tỉnh uỷ (chị Đinh Thị Vĩ) và 5 cán bộ của các ngành tuyên huấn, mặt trận, phụ nữ, binh vận, đấu tranh chính trị là các chị: Chị Ái, Chị Tâm, Chị Hường, Chị Anh, Chị Trang xuống hoạt động trọng điểm Quy Nhơn. Trong cấp tỉnh uỷ, 50 % Tỉnh uỷ viên được điều xuống trọng điểm. Rút một bộ phận du kích khu Đông, bộ đội địa phương Tuy Phước bổ sung cho bộ đội tỉnh, 20 đảng viên ưu tú của Phước Sơn, Phước Hậu được chọn làm liên lạc dẫn đường và quyết tử binh vận.

Bốn đồng chí phó ban của khu như: Ban tổ chức (anh Đồng); Ban tuyên huấn (anh Huấn), Ban Binh vận (anh Hải Ninh), Ban đấu tranh chính trị (anh Tám Lý), bám theo hành lang bàn đạp ven biển vào khu Đông tham gia hoạt động ở trọng điểm.

Tại Quy Nhơn ta tranh thủ được một thiếu tá cảnh sát , một trung tá kho 22, một giáo viên trung học, một ký giải , mười học sinh trường hướng đạo, một bác sĩ, một nhân sĩ có uy tín trong tỉnh. Ta ghi âm lời kêu gọi chuẩn bị đưa lên đài phát thanh khi ta tấn công nổi dậy thắng lợi chọn vẹn.

Nhưng diễn biến đột xuất xảy ra ngay chiều ngày 29 tháng 1 năm 1968 (tức ngày cuối năm Đinh Mùi) địch đánh vào vị trí thị đội , đồng chí chính trị viên Thị đội (bí danh là Tuấn hy sinh, tất cả các sơ đồ từ hướng tiến nhập và các vị trí ta tiến công trong nội thị Quy Nhơn đều lọt vào tay địch. Đồng chí Biên Cương, Bí thư Thị uỷ người nắm kế hoạch hoạt động trong thị xã bị địch bắt ngay trong thị xã Quy Nhơn. Địch đánh hơi thấy sự chuẩn bị của ta nên chúng thiết quân lực trong Thị xã, cấm thuyền bè đi lại trên Đầm Thị Nại, tăng gấp rưỡi lực lượng cảnh sát dã chiến, tăng thêm quân Mỹ bảo vệ cả dinh Tỉnh trưởng và các vị trí then chốt. Thành lập lực lượng hỗn hợp Mỹ - Việt - Triều bảo vệ nghiêm mật thành phố Quy Nhơn.

Với tình hình diễn biến như trên lại không nhận được lệnh điều chỉnh giờ nổ súng (vì lịch năm Đinh Mùi giữa miền Bắc - miền Nam chênh lệch một ngày) nhưng với tinh thần “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” lực lượng ta vẫn kiên quyết chuyển hướng tiến nhập vào Quy Nhơn từ khu 6 hành quân ra Hưng Thạnh, lợi dụng lúc thuỷ triều dòng kiệt, toàn bộ lực lượng đột nhập một hướng cạnh đồn cảnh sát Bạch Đằng lúc 3 giờ 30 phút sáng ngày 30/1/1968 (sau giao thừa) quân ta nhanh chóng toả ra tiến đánh các mục tiêu: Quân vụ thị trấn, Đài phát thanh, ga xe lửa, đồn cảnh sát Bạch Đằng, và đánh sập một lô cốt phòng vệ dinh Tỉnh trưởng nguỵ. D50 chiếm lĩnh án ngữ xóm Vách đoạn đường từ Cầu Đôi vào Quy Nhơn nhằm ngăn cản địch kéo về ứng cứu cho Quy Nhơn. Vòng ngoài trung đoàn 10 đánh chiếm đèo Cù Mông diệt lực lượng địch từ trong ra ứng cứu Quy Nhơn; D6/E12 thế đội II của trọng điểm tấn công nổi dậy Quy Nhơn, cấp trên lại điều từ tối 30-1-1968 lên Phương Danh huyện An Nhơn ngăn chặn địch kéo quân từ đường số 1 phía bắc vào ứng cứu Quy Nhơn.

Trong những ngày 31 tháng 1 đến 1,2 tháng 2 năm 1968 lực lượng ta đẩy lùi hàng chục đợt phản kích của 10 tiểu đoàn Mỹ, Nam Triều Tiên, và quân Nguỵ từ ngoài kéo vào ứng cứu.

Hoà với tiếng súng tấn công của ta, mặc dù địch ra lệnh cấm đốt pháo nhưng quần chúng ở các khu lao động của thị xã vẫn đốt pháo vang trời khiến địch thêm rối loạn. Mặt khác, công nhân nhà máy điện và nhà máy nước tự động cắt điện, nước để hưởng ứng.

Khi Đ10 chiếm lĩnh đài phát thanh và các mục tiêu khác ở trung tâm thị xã, hơn 1.000 đồng bào cùng bộ đội lập chướng ngại vật và đồng bào các khu lao động khác sẵn sàng nổi dậy.

Tại Đài phát thanh . Đ10 đặc công dồn số tù binh bắt ở các điểm ta đánh và lính nguỵ bảo vệ Đài phát thanh dồn vào đây 200 tên. Chiến sự diễn ra khá ác liệt nhưng Đ10 vẫn trụ lại đến 5-2-1968 đánh lui 4 đợt phản kích của địch diệt 130 tên. Đồng chí Biên Cương bí thư thị uỷ Quy NHơn được giải thoát khi ta đánh chiếm quân vụ thị trấn đã cùng chiến đấu với bộ đội và anh dũng hy sinh. Đồng chí tiểu đoàn trưởng Võ Mười cùng với các chiễn sĩ Đ10 chiến đấu đến viên dạn cuối cùng và hy sinh anh dũng tại Đài phát thanh. Gương chiến đấu ngoan cường của các đồng chí là biểu tượng sáng ngời về tinh thần “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” của quân dân Bình Định trong tết Mậu Thân.

Sáng ngày 5-2-1968 hai cơ sở nữ học sinh trường Cường Để tìm cách ra Hưng Thạnh báo cho ban cán sự biết là: “Đài Hà Nội nói: Cuộc tấn công, nổi dậy ở miền Nam là cả thời kỳ, cả giai đoạn” chứ không phải ta làm cái “rụp” là xong đâu”. Chúng tôi nghĩ khi bước ngoặc của đại cuộc Trung ương có thể sử dụng phương tiện thông tin đại chúng để chỉ đạo, nên cơ sở được hiểu sớm không đợi sự hướng dẫn của thành phố, tỉnh . Anh Huấn góp ý với ban chỉ đạo : “ nên tổ chức một cuộc nhập thị nguỵ trang bằng hình thức đi lấy nước” để báo tin cho lực lượng ta nhanh chóng rút quân. Chị em phị nữ Tỉnh và Thị xã cấp tốc tổ chức cuộc nhập thị hàng ngàn chị em do chị Hương (con dâu bà Lễ ông Cà ở Phượng Bắc, thôn Dương Thiện, xã Phước Sơn. Gia đình này đã xây dựng công sự mật cho ban chỉ đạo đứng chân khôi phục phong trào tấn công nổi dậy vào Quy Nhơn) làm mũi trưởng đột nhậo vào Quy Nhơn. Mười chị em đi đầu mang theo thùng, vò đựng nước, lính địch tưởng lầm là đồng bào Hưng Thạnh đi lấy nước về dùng nên chị em vượt qua được các trạm gác của địch . Lực lượng lớn của đoàn nhập thị ào ạt nối theo, địch lập tức ngăn chặn, đàn áp đẫm máu. Toán đi đầu lọt được vào nội thị, lập tức toả vào xóm vách gặp được lực lường D50 báo cáo cán bộ chiến sĩ biết tin đài Hà NộI nói như trên và ý đồ của lãnh đạo nên tìm cách lui quân sớm. Do đó, đêm 5-2-1968 toàn bộ D50 rút ra khỏi Quy Nhơn theo hành lang bàn đạp đã chuẩn bị sẵn nên đảm bảo an toàn. 

Cùng thời điểm tấn công, nổi dậy ở trọng điểm Quy Nhơn, các huyện khác cũng đồng loạt tấn công và nổi dậy ở quân lỵ và vùng tranh chấp, vùng địch kẹp, thu được những thắng lợi đáng khích lệ.

Trong hoàn cảnh phong trào vừa hồi phục sau 2 mùa khô (1965-1966, 1966-1967) chẳng những chuyển được thế phong trào lên mà còn cùng toàn khu, toàn miền Nam thực hiện cuộc tập kích chiến lược vào các cơ quan đầu não của địch. Lần đầu tiên đưa chiến tranh vào tận hang ổ địch trên quy mô toàn tỉnh. Cuộc tấn công, nổi dậy của Bình Định đã góp phần cùng quân dân toàn niềm Nam giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, dẫn đến phải rút quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miến Nam Việt nam.

T.Đ.C
Quy Nhơn là trọng điểm của tỉnh đồng thời là một trong những trọng điểm của khu 5/ Tô Đình Cơ
Bình Định.- 1998.- Số Xuân.- Tr. 3 (1.275)

BÌNH ĐỊNH THÁNG 3/1975.

đăng 19:22, 5 thg 4, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 10:31, 16 thg 9, 2014 ]

quynhoner » http://binhdinhffc.com

BÌNH ĐỊNH THÁNG 3/1975.

Chiến tranh là điều vô cùng kinh khủng. Không điều gì trên cõi đời này lại có thể mang đến những nỗi bất hạnh và tang thương như chiến tranh. Chiến tranh đã lùi xa trong quá khứ ít nhất cũng đã hơn 30 năm. Mặc dầu là thế, nhưng những nỗi đau của nó vẫn còn chồng chất và hiện diện trong từng gia đình, trong từng cá nhân, trong tâm trí của những con người đã từng chứng kiến và đi qua chiến tranh. Hình ảnh đứa bé chừng hơn một tuổi khóc, níu áo, bò lổm ngổm trên ngực người mẹ tìm vú. Người mẹ vừa chết bởi trận giao tranh ngay dốc Trung Thứ – Mỹ Chánh – Phù Mỹ. Tiếng khóc chơ vơ vào một buổi sớm mai, giữa một con đường tràn ngập người đi tản cư. Những bước chân nặng trĩu đi qua. Liệu tiếng khóc đó thấu được lòng ai ? Thân phận con người trong chiến tranh thật bé bỏng, kiếp người trong chiến tranh lờ mờ như làn sương mỏng …

Phóng to (kích thước thật: 1022 x 800)Hình ảnh
Một em bé bị trúng đạn chết trong chiến tranh ở Bình Định.

Ngày mồng 5 Tết Nhâm Thìn 2012.
Trở lại quê hương dịp Tết và khi từ nhà Restive Horse trở về. Tôi đi qua chiếc cầu chữ I, nhân chứng lịch sử một thời bão lửa đất Hưng Thạnh – Quy Nhơn. Tôi lại có ý định viết lại những gì mà mình đã từng cảm nhận những ngày tàn cuộc chiến ở đây. Hoàn toàn không có ý viết về chiến tranh. Vì nó quá kinh khủng. Chiến tranh là tiếng “ tắc cù “ trong đêm vắng, là thân người ngã xuống, là tiếng khóc than xé lòng…là sự chết chóc và hận thù chồng chất. Chiến tranh đã lùi xa trong quá khứ của khúc ruột miền Trung thân yêu. Tất cả đã lùi xa và lùi xa mãi mãi. Chỉ còn chút gì trong tâm tưởng của những con người đi qua nó. Duy nhất một điều thiêng liêng nhất không hề thay đổi : Bình Định vẫn là quê hương Bình Định. 
Năm 1975 cáo chung cho một cuộc chiến tranh. Một điểm chấm hết cho bao tiếng khóc động lòng. Phù Mỹ, Bồng Sơn, Tam Quan, Hoài Ân… những địa danh chất chồng những đau thương máu lửa.

Hình ảnh
Cảnh tránh đạn của người dân trong chiến tranh ( Ảnh : Kyoichi Sawada, Nhật Bản, phóng viên hãng thông tấn UPI.) Chụp tại Lộc Thượng- Bình Định- Nam Việt Nam 1965.


Hình ảnh

Ngày 30 tháng bảy năm 1966, Lộc Thượng, Nam Việt Nam -- nhiếp ảnh gia đoạt giải Pulitzer Kyoichi Sawada ( ngồi bên trái bức hình) giới thiệu bản in của bức ảnh được giải thưởng về sự lánh nạn của các thường dân khỏi ngôi làng bị đốt của họ với chính những đối tượng được chụp ảnh. Sawada đã mất năm ngày tìm kiếm để tìm thấy được 2 phụ nữ và con của họ đã xuất hiện trong các bức ảnh ấn tượng, giúp Sawada giành chiến thắng 3 giải thưởng nhiếp ảnh báo chí lớn.
(30 Jul 1966, Loc Thuong, South Vietnam --- 7/30/66-Loc Thuong, S. Vietnam- Pulitzer Prize-winning photographer Kyoichi Sawada (L) presents his prize-winning print of Vietnamese civilians escaping their burning village to the subjects of the photograph. Sawada searched for five days before finding the 2 women and their children who appeared in the dramatic picture, which helped Sawada win 3 major press photography awards.)
http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/3683355681/

Chuyện ngày giờ của một biến cố lịch sử trọng đại vốn là điều khó nói. Hãy còn đó những khoảng cách về thời gian trong các trang lịch sử. Ngày kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là ngày 30/4/1975 với quãng thời gian là 55 ngày đêm. Nhưng không một tài liệu nào ghi rõ ngày mở màn chiến dịch là ngày nào và ở đâu ? Ngày 31/3/1975 là ngày những chiến sĩ cách mạng tiến vào Quy Nhơn qua ngả Hưng Thạnh và Chợ Dinh . Còn việc ngày 31/3/1975 có được công nhận là ngày giải phóng Quy Nhơn hay không thì là chuyện khác. Tôi đã là người xa xứ.

37 năm trôi qua.

Một thế hệ đã trưởng thành “ tam thập lập thân”. Lứa tuổi chất chứa bao khát vọng, bao nhựa sống cùng ấp ủ những đam mê. Một thế hệ đang có những cống hiến rực rỡ nhất cho quê hương đất nước. Chiến tranh là gì ? Chỉ có trong tiểu thuyết, trong phim ảnh về chiến tranh. 

Tôi đã thực hiện được nhiều ước mơ của mình. Có những ước mơ mà có nằm mơ cũng không thấy, cũng đã làm được. Nhưng cái ước mơ cỏn con làm sao sống lại những năm tháng tuổi thơ, và một thời mơ mộng bên chiếc cầu chữ I bắc qua sông Hà Thanh là không thể làm được. Thời gian có chờ đợi hay ngưng lại cho ai đâu. 
Như chỉ là hôm qua chứ không là mấy mươi năm xa xứ. Lang thang tìm chút gì của dĩ vãng đã thành thơ và nhạc của cung lòng. Cuộc đời vốn như một hành trình. Bao điều của hiện tại, những ý tưởng cho ngày mai và trong một chút sâu lắng cũng ráng soi mói lục tìm những quá khứ xa xôi. 

Topic này viết để nhớ về những tháng ngày ở quê hương. Để nhận rõ hãy còn đâu đó tình yêu quê hương, tình yêu tiếng Nẫu và con người Bình Định. Như lời phiêu du nghe giữa dòng đời. Lắng nghe khúc hát xốn xang của đời phiêu bạt. 

BÌNH ĐỊNH ĐAU THƯƠNG !

Hình ảnh
Chiến thuật trực thăng vận của Mỹ tại Bồng Sơn (12/10/1966)

Hình ảnh
Tội cho các Cụ ở Bồng Sơn thời chiến tranh.(7/2/1966)

Hình ảnh
Tang thương đi vào mỗi gia đình không chừa một ai ! (Bồng Sơn 02/02/1966)

Hình ảnh
Các Cụ ở Phù Cát bị tình nghi theo Cách mạng ! ( 19/10/1966)

KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH !

Hình ảnh
Chiến tranh ! 
http://www.tin247.com/anh_chien_tranh_v ... 84757.html

Phóng to (kích thước thật: 720 x 540)Hình ảnh
Hòa bình ! ( http:// quangbomtruong - BinhDinhFFC )

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾN TRANH !

Không biết viết từ đâu và viết về điều gì khi nói về chiến tranh trên xứ sở Bình Định. Chỉ biết nghe tiếng súng nổ ì đùng mẹ ẵm chạy xuống hầm chứ không biết nó là ký hiệu của chiến tranh. Ngày gồng gánh nhau chạy giặc mới đến ngả ba An Lương thì bị chận lại. Một ông lính lấy cái nòng súng gạt cái nắp bầu sang một bên để coi bên trong là gì ? Chỉ có gạo ! Đi tiếp. Dọc đường từ Mỹ Chánh lên Bình Trị - Mỹ Quang lại gắp mấy lần chận nữa. Ngày đó đâu có biết ông lính làm gì mà đeo súng đạn thấy bắt ớn. Khẩu súng có cái lê thò ra ngoài nhọn hoắt.
Ở Bình Trị mấy ngày đêm nào cũng nghe súng nổ, cứ ôm chặt lấy mẹ không rời. Có bữa sợ quá tiểu ra quần ướt cả chiếu bị mẹ phát cho mấy phát vào mông. Mẹ bịt miệng chứ không cho khóc.
Thỉnh thoảng có bữa lại nhìn thấy người ta khiêng võng đi qua nhà sao nhiều thế ! Có cái thì cột chặt lại. Có cái thì mấy ông lính nằm trên đó la om sòm chửi bới ai đó. Ngay cầu Bình trị có mấy người chết bị lính đem ra bỏ ngay đầu cầu mình mẩy đen thui. Họ bỏ đến trưa ai đi qua lại cũng không dám nhìn. ( Khi lớn lên mới biết đó là những du kích hay bộ đội hy sinh hay cũng có thể là dân lành sống trong khu vực mất an nình bị quy kết là Việt Cộng ?)
Chán ngấy với cảnh như thế, cha tôi quyết định đưa cả gia đình vô Quy nhơn. Ông sợ nhất là cảnh con cái còn nhỏ nhìn thấy người chết nắm vất vưởng ngoài đường. Tôi nghe ông nói rằng “ Không biết bao giờ đến lượt gia đình mình ?”. Một sự ra đi trong vội vã với hai bàn tay trắng.

Đến Quy Nhơn gia đình ở trọ ở một gia đình người quen ở hóc bà bếp ngay dưới chân núi bà Hỏa. Sống được vài bữa thì bị lính tới hỏi thăm và giữa đêm bắt chủ nhà đi. Chính quyền nghi chứa chấp Cộng Sản ( Gia đình này có cha là cán bộ tập kết ra bắc ở An Mỹ ). Thời đó những gia đình ở các vùng chiến tranh vô Quy Nhơn hay bị gán cho cái tên “ Cộng Sản”. Cắp sách đến trường cũng bị mấy thằng lóc chóc trong lớp gọi là “ Cộng Sản con”. Khổ quá, có biết Cộng Sản là qai đâu. Tức quá, nghe đứa nào nói là bay vô chơi liền. Cứ vài bữa thì đánh lộn một lần. Có những lúc bị chúng bê hội đồng đánh te tua mặt sưng bầm tím. Sau này, Thầy Phan Minh Phước biết được nguồn gốc vấn đề, đứa nào nói nữa bị Thầy phạt rất nặng. May quá thoát nạn .

Mùa hè đỏ lửa 1972.
Tôi bắt đầu để ý tới chiến tranh do những điều xảy ra ở trước mắt mình. Ngày nào đi học về cũng thấy cái quan tài phủ lá cờ của chính quyền Sài Gòn để ngay trên sân nhà thờ Quy Đức. Lại một người con, người chồng , người cha, người bạn giã từ cõi thế. Lại một gia đình mất con, một người vợ trẻ mất chồng và những trẻ thơ mất cha. Những phụ nữ chưa đầy tuổi hai mươi và đứa bé chưa biết đi trên đầu mang tang trắng và trở thành “ Cô nhi góa phụ”. Đời phụ nữ lấy chồng chiến tranh như là một canh bạc. Không biết lâu hay mau vầng khăn trắng chít trên đầu.
Rồi những anh em trong xóm bị mất tích hay bị Cách mạng bắt làm tù binh. Những hồ sơ đó các chú, các bác đều nhờ tôi đọc cho nghe để biết “người ta nói cái gì? ”. Những phiên hiệu đơn vị, KBC ( khu bưu chính – hòm thư bây giờ) lập đi lập lại trong đầu tôi như một bản cửu chương hay những hằng đẳng thức toán học. Khốn khổ là hồi đó các cụ đâu có biết chữ, cứ nhờ viết cho có cái đơn. Rồi cha con tôi cùng người đó xuống gặp Dân biểu hạ nghị viện ( Đại biểu Quốc Hội bây giờ ) tỉnh Bình Định là ông Nguyễn Hữu Thời để nhờ giúp đỡ. Khi có kết quả thì chú Xuân thư ký nhà ở trại Phật giáo ( nay là khu vực 3 Phường Đống Đa, gần cầu chữ I ) đem lên nhà tôi. Ông Nguyễn Hữu Thời là người cùng quê với cha tôi, nên mọi việc đều giải quyết nhanh chóng.

Khi ký hiệp định Paris tháng 1/1973 thì có điều khoản trao trả tù binh giữa Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và quân đội Sài Gòn. Buổi trưa đi học về đã thấy nhà đông người. Mọi người đang chờ tôi về để đọc danh sách trao trả tù binh ở bờ sông Thạch Hãn – Quảng Trị. Có người vui khi nghe đến tên con mình, chồng mình, cũng có người buồn lặng lẽ ra đi khi không thấy có tên người thân trên báo Độc Lập ra sáng thứ 5 hay tờ Tia Sáng.

Hình ảnh

Bác Nguyễn Thị Bình Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ CMLTCHMNVN đặt bút kỳ Hiệp định Paris năm 1973. ( Bác Bình hồi đó xinh ghê ! )
http://www.honda67.vn/forum/showthread. ... -Nam/page3

Tết năm 1973 hai bên đình chiến mấy ngày tết Nguyên Đán. Khi ra đến xóm Lương Nông, ngay bờ hai cổng ( nay là bờ tràn 1) thì đã gặp một toán lính nghĩa quân khiêng mấy người lính vừa mới chết để ngay cổng bờ ông Hộ. Theo quy định của Hiệp định Paris thì ngày đình chiến bên nào ở đâu thì ở đó, không xâm phạm đất của nhau. Vùng Đồng Ông Cha ( nay là khu vực 4 phường Nhơn Bình ) trên mấy đọt dừa cao đều xuất hiện cờ của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam nửa xanh nửa đỏ giữa có ngôi sao vàng phất phới bay. Cờ bay phần phật và những bẹ dừa đầy tổ dồng dộc đung đưa trong gió như là biểu hiện của hòa bình. Nhưng lại có chuyện ban đêm lính nghĩa quân lén lấy cờ của Cách mạng nên lại phải khiêng nhau về.

Hình ảnh
"Thoát khỏi ngục tù" hình ảnh trao đổi tù binh tại sông Thạch Hãn - Quảng Trị

Hình ảnh
Hai người lính ở hai chiến tuyến tại Quảng Trị ngày đình chiến năm 1973.
“Giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà chỉ có dân tộc VN chúng ta thắng đế quốc Mỹ”.
( Tướng Trần Văn Trà)

http://khonggiantre.com/tam-anh-du-bao-ngay-hoa-binh/

Trước tết Quý Sửu 1973 mấy ngày.
Hai cha con tôi đang lom khom dẩy mả ở quê thì gặp một đơn vị lính đi càn từ Mỹ Chánh xuống đến Cát Minh. Hai cha con bị mấy ông lính bắt dẫn đi và tập trung ngay cầu An Mỹ hiện nay. Không biết có nghi ngờ gì không, nhưng họ canh gác rất kỹ. Nghe mấy ông lính gọi điện thì họ đang kêu xe chở mấy người họ bắt được về đơn vị của họ ở Phù Mỹ ( Trung đoàn 41 Sư đoàn 22 Bộ binh đóng ở Phù Mỹ ). Tất cả mọi người đều xanh mặt và lo lắng, có thể không được ăn tết ở nhà. Đang sợ mất hồn vía thì tôi thấy từ xa một người quen quen. Khi tới gần tôi mới nhận ra đó là anh trai của Thầy dạy tôi ở trường Nguyễn Trường Tộ, chỉ huy cuộc hành quân.
Tôi nói với cha tôi đó là anh trai của Thầy dạy tôi. Cha tôi lại nói chuyện với người chỉ huy. Ông gọi tôi lại và hỏi mấy câu về gia đình của ông. Trong lúc tôi đang trả lời ông các câu hỏi, có một anh lính đứng gần đó nhận ra tôi và nói to “ Thằng này nó hay đến nhà Thiếu tá chơi và hái trứng cá nè !”.
Thế là cha con tôi thoát !

Hình ảnh
Quy Nhơn 1965.

Ông già, phụ nữ, con nít có liên quan gì đến chiến tranh. Họ có cầm súng đâu. Thế mà chỉ cần động tĩnh nhỏ là " bùm, bùm "

CÂU CHUYỆN VỀ CHIẾC HẦM HƯNG THẠNH.

Mùa hè năm 1971 giữa mùa gió Nam cồ.
Mới sáng mà gió đã thổi mạnh từ hướng Tây về. Từ Cầu Đôi ra Lương Nông nhiều khi có cảm khác như muốn rời mặt đất bay lên không trung. Ra đến bờ nhà ông Hộ cha con tôi gặp mấy anh lính “xây dựng nông thôn” mặc đồ đen vác súng Carbin đi vào. Họ không còn lạ gì với hai cha con người đi chài này. Ngày nào cũng gặp trên con đường đê.
Ngay bờ hai cổng ( nay là bờ tràn 1) cha tôi tháo chài và quăng những chài đầu tiên để thăm dò tình hình. Phía ngoài đó chừng vài trăm thước có một cái đồn lính ( nay là một cơ sở của trường Tiểu học) do lính nghĩa quân của xã Phước Hậu trấn giữ. Mấy ông lính nhiều khi làm biếng phải qua 8 giờ mấy ổng mới tháo lựu đạn hay mìn gài ban đêm để phòng thủ. Cha tôi đã một lần vấp phải mìn chiếu sáng ngay góc nền nhà thờ Lương Nông, suýt chút nữa thì cũng đã lãnh trọn những loạt đạn đại liên bắn ra từ đồn lính.
Khi thấy mấy anh lính nghĩa quân vác súng M16 đi từ ngoài vào thì là đường đã an toàn. Cha tôi vội kéo chài và đi ra hướng bắc bờ đê.
Con đường đê to lớn hiện nay được xây dựng năm 1973 sau hiệp định đình chiến. Trước kia con đê này ngoằn ngoèo cơ bản là ranh giới giữa các bờ cá. Duy nhất chỉ có xóm nhà ông Hộ là có người ở ( xóm nhà này cách đường 19 và Cầu Đôi chừng 500m) còn phía sau không có dân ở. Thỉnh thoảng chỉ có mấy người đi câu cá, đập hàu, cào dộp kiếm sống dọc theo sông Lương Nông. Như vậy nếu tính từ cầu Đôi đi ra hướng Bắc chừng hơn cây số thì đã là vùng mất an ninh. Đồng muối ông Cha ( nay là khu vực 4 phường Nhơn Bình) ngay cả lính nghĩa quân Phước Hậu cũng không dám ra khu vực này.
Ao bà Bảy Bèo ngay cạnh đồn lính là nơi rất nhiều cá Dìa. Thường thường khi ra đến khu vực này cha tôi thường ghé xuống chài. Chuyện kiếm vài chục con cá Dìa bằng bàn tay không phải là chuyện khó. Cơ bản là cha tôi ra bờ ông Trấp hay bờ ông A. Hai bờ này nắm kế nhau. Bờ ông A nằm ngay con đê và bờ ông Trấp nối bờ ông A đến nhánh sông ba. Bờ ông Trấp là nơi có tôm cỏ nhiều nhất, do địa hình thích hợp gần sông nên tôm hầu như có sẵn. Trung bình cứ gần 10 con thì được 1kg. Những con tôm cỏ màu đỏ gạch bằng cổ tay trẻ lên ba nhìn rất thích. Theo thông lệ thì chài xong bờ ông Trấp tôi phải kiếm cái bao cát Đại Hàn, loại bao mà lính nghĩa quân hay đổ cát vào để làm công sự, bỏ cá vào để mang về cho mẹ tôi đi chợ bán. Cá thì bán ở chợ Tháp Đôi. Tôm cỏ thì mang xuống chợ Cây Me gần Sở Điện Lực ngày nay để cân cho mối lái đông lạnh chuyển đi Sài Gòn bằng đường hàng không. Với cái chài trên vai, cha tôi đã nuôi mười đứa con một cách nhẹ nhàng. Vác chài đi coi như có gạo, có tiền.
Nhưng ở đây có một điều cần nói thêm. Ngày đó, những người làm cá không ai dám vượt qua bờ tràn 1 Lương Nông hiện nay. Chuyện đơn giản chỉ vì họ sợ Cộng Sản. Hỏi họ Cộng Sản là ai ? Họ cũng chỉ nói mập mờ. Vì thế phải nói khu vực này cá tôm còn nhiều hơn trong bờ cá hiện nay. Bà con đi chài cứ thấy cha con tôi mang cá tôm về mà phát thèm. Nhưng họ không bao giờ dám theo chân cha tôi.
Cha tôi cả một đời người chỉ biết đi chài và đánh lưới. Ông không bao giờ để ý tới chuyện xã hội hay chính thể gì gì. Ông đâu có lạ gì với từ Cộng Sản và những người Cộng Sản hay Việt Cộng như cách nói thời đó. Ông đã từng chở cán bộ địa phương tập kết ra Bắc. Sau này nhiều người trở lại miền nam hoạt động cũng gặp ông Ở Núi Bà – Cát Hải xin muối xin gạo khi ông đi bán muối vùng Gò Bồi. Trong số các vị đó có người sau này là Chủ tịch UBND Tỉnh Bình Định. Nhiều lúc, khi mang cá về cho mẹ đi chợ, tôi cũng gặp mấy anh em du kích ( hay chủ lực cũng không rõ) treo võng nằm tòn ten khắp khu vực Hưng Thạnh từ giáp cầu Nhơn Hội hiện nay đến Lương Nông. Cũng có mấy lần anh em xin ít cá hay tôm để làm thức ăn. Nhìn phía sau lưng tôi còn thấy cả đầu súng nhô lên. Biết là biết vậy không bao giờ nói với ai những điều đã thấy như cha tôi căn dặn.

CHUYỆN CHIẾC HẦM.

Ngày 18/3/2012 cùng với @nguyentoans từ Phước Thuận về Quy Nhơn theo dọc đê Đông Định. Tôi cố gắng tìm lại vị trí chiếc hầm bí mật mà cha con tôi đã từng gặp ở thời điểm năm 1971. Nhưng khi hỏi anh Chín Dung ở Đông Định, người đã từng đi chài với tôi sau giải phóng, thì anh nói vị trí đó nay đã không còn. Lý do là có trận lụt lớn cách đây mấy năm đã phá đoạn đê đó ( đoạn từ nhà xây của ông Trấp ra Đông Định). Sau này khi làm mới con đê người ta đã phóng thẳng con đường và chiếc hầm đó coi như không còn dấu tích.
Cũng phải thôi, đã 41 năm rồi còn gì. Có gì tồn tại mãi với thời gian và bao đổi thay của thời cuộc.


Sáng hôm ấy, có lẽ là tháng 2 Âm lịch vì tôi còn nhớ là nước ròng buổi sáng sớm và bắt đầu mùa sứa. Trong chu kỳ của thủy triều thì chỉ có tháng 2 và tháng 8 Âm lịch là có 3 con nước. Trong đó có con nước ròng vào sáng sớm.
Khi vượt qua nhà ông Trấp ngay cái cua của bờ đê, cha tôi thấy một bầy cá kiền, cá đấu vẫy nước. Cha tôi nhanh chóng thu cái chài và băng qua hàng đước giáp đê để chận đầu bầy cá đang giỡn. Lúc đó, tôi còn nhỏ nên phải bò từ từ xuống bờ đê. Cha tôi vãi mấy chài và bắt được khoảng hơn 10 chục con cá kiền, cá đấu cầu ( loại cá đấu đầu to vảy nhỏ xíu). Hai cha con đang loay hoay bỏ cá vào cái bao cát Đại Hàn để tôi mang về đi chợ. Thình lình có hai anh thanh niên tới nói với cha tôi là có người cần gặp ở mé bờ đê. Tôi không được đi theo nên sợ quá bật khóc. Một anh thanh niên dẫn tôi vào trong bụi mắm ngồi chờ. Cha tôi đi khuất vào trong hàng đước rậm. Anh thanh niên vừa ngồi canh tôi vừa cảnh giới trên đường đê coi có ai đi ra hay không. Cặp mắt anh vừa nhìn tôi vừa nhìn lên mặt đê. Chừng nửa tiếng đồng hồ sau thì cha tôi trở lại. Ông không nói gì và vội vã cuống chài và leo lên mặt đê. Nếu cha con tôi đi theo đê vào xóm Lương Nông thì thế nào cũng gặp lính. Ông dẫn tôi băng đồng về hướng Tây Định vì ở hướng đó có một nhóm người đang cắt lúa. Từ đó cha con tôi men theo sông chợ Dinh để vào xóm nhà khu gia binh ( nhà cho vợ con lính ở, nay là công tư vật tư Nông nghiệp tỉnh). Câu chuyện đó cha tôi không bao giờ kể lại cho gia đình nghe, còn tôi thì còn quá nhỏ không để ý gì về chuyện đó.
Từ đó về sau cha tôi vẫn thường ra đó chài nhưng đều né cái vị trí của cái hầm chừng vài chục mét.
Năm 1973 hiệp định Paris được ký kết. Chính quyền Sài Gòn mở con đường từ Cầu Đôi đi ra rộng hơn để dễ bề quản lý tình hình anh ninh. Do con đường đã được mở nên dân làm cá bắt đầu đi ra sâu hơn. Có người ra đến đồng muối ông Cha để bắt ốc, đập hàu…
Mùa gió nam năm 1975.
Hai cha con tôi bám theo vực sâu bờ bắc sông Hà Thanh để chài. Lúc này tôi đã lớn cũng đã bắt đầu đi chài chứ không còn lẻo đẻo theo cha lượm cá nữa. Đây là đoạn nước sâu, nước chảy xiết cá kiền hay men theo vực sâu đi ngược dóng nước. Trong khi chài đuổi theo bầy cá. Tôi bất chợt nhìn lên chiếc cầu chữ I ngày đó là chiếc cầu bằng gỗ dầu đen. Một ông cán bộ mặc bộ đồ Tô Châu đứng trên thành cầu nhìn hai cha con tôi. Khi cha tôi kéo cá vào sát bờ, người cán bộ xoắn quần lội ra chỗ giữa dòng cha con tôi đang đứng. Cả cha tôi và người cán bộ nhận ra nhau. Dù quần áo cha tôi ướt át nhưng vị cán bộ vẫn ung dung đưa tay ra trước, bắt tay với cha tôi.
Ông chính là vị cán bộ năm xưa mà cha tôi đã gặp. Ông niềm nở hỏi thăm tình hình gia đình tôi. Ông quay sang nhìn tôi và nói “ Thằng này nhanh lớn dữ ?” Ông chỉ nhà ông là cái nhà trên cùng phía trên đầu cầu bên trái hướng Hưng Thạnh. Ông khẩn khoản mới cha tôi lên nhà ông uống nước. Thì ra nhà ông là nhà mà chúng tôi khi đi kéo lưới ngao hay lên ngồi nghỉ vì trước nhà có mấy cây dừa.
Thỉnh thoảng những năm sau này do đã quen thân, cha con tôi mỗi lần chài trước nhà của ông đều ghé nhà uống nước. Gia đình ông cũng có nhiều mất mát trong chiến tranh. Ông có một con trai là Liệt sĩ an ninh khi đánh vào Quy Nhơn Tết Mậu Thân năm 1968.
Sau năm 1975 mọi con người nơi đây trở về với cuộc sống bình thường. Rất nhiều thanh niên ở đây trở thành những chiến sĩ Công an nhân dân vì trước đây họ là chiến sĩ an ninh.Vào từng nhà đều thấy bằng Tổ Quốc Ghi Công treo trên tường. Tất cả đều ghi là những liệt sĩ này đều là chiến sĩ an ninh. Nhiều gia đình được tặng Bằng Gia Đình Vẻ Vang chứng nhận những hy sinh cống hiến cho Tổ Quốc những đứa con yêu quý của mình.

Phóng to (kích thước thật: 600 x 800)Hình ảnh
Liệt sĩ Nguyễn Văn Bùng một trong ba Liệt sĩ hy sinh trong trận đánh vào Đài Phát Thanh Quy Nhơn Tết Mậu Thân năm 1968( nay là Sở Tài Chính tỉnh Bình Định) ( ảnh của gia đình liệt sĩ cung cấp)

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh
Bằng Tổ Quốc Ghi Công ( ảnh của gia đình Liệt sĩ)

Hưng Thạnh là mảnh đất có nhiều gia đình, có những phụ nữ lặng lẽ âm thầm nuôi giấu cán bộ. Những thân phận bị roi đòn, tra tấn suốt một thời gian dài. Chính mảnh đất này đã sinh ra những người con trai, con gái hy sinh tuổi xuân của mình trong giai đoạn khốc liệt nhất của chiến tranh.

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh

Bằng khen của mẹ Liệt sĩ Bùng.

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh

Bảng Gia Đình Vẻ Vang của Nhà Nước tặng Gia đình Liệt sĩ Bùng.

QUY NHƠN NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG 3/1975.

Một thành phố yên bình bỗng trở nên hỗn loạn những ngày cuối tháng 3. Từ những tin đồn và những lời tuyên truyền kinh khủng về quân giải phóng, về những người Cộng sản mà người dân hoang mang đến tột cùng. Cũng không trách gì người dân, vì đa số họ có biết Cộng Sàn là ai, họ là những người như thế nào đâu. Trong tâm trí họ Cộng Sản là tàn sát, là chết chóc tang thương. Họ đâu biết rằng Cộng Sản là những người quanh họ, đang sống cùng họ và có khi là người thân của họ. Một bộ máy tuyên truyền chiến tranh tâm lý của chính quyền Sài Gòn phần nào đã đạt thành công.
Từ ngày 20/3/1975 các công sở vắng người đi làm. Nhà trường cấp giấy Chứng chỉ học trình cho học sinh từ ngày 24/3. Có thể nói Quy Nhơn những ngày ấy đã bắt đầu rơi vào tình trạng không có chính quyền. Làn sóng di tản đang đến hồi cao trào tột đỉnh.
Ngày 28/3 tôi theo một gia đình vào Quân y viện Quy Nhơn để nhận xác của một thằng bạn học cùng lớp. Nó đã mượn khai sinh của người khác để đăng lính. Trong những ngày nó huấn luyện Phù Cát gia đình không hề hay biết gì. Mẹ nó khóc ngày khóc đêm cầu trời khấn Phật cho nó trở về. Sau khi huấn luyện xong nó được bổ sung về Tiều đoàn 201 ĐPQ của Tiểu khu Bình Định ( như Tỉnh đội bây giờ ). Trong khi đi mở đường từ Mỹ Tài về An Lương - Mỹ Chánh nó đã bị các du kích của xã Mỹ Tài phục kích.
Quân y viện Quy Nhơn la liệt lính bị thương từ các nơi đưa về nằm đầy ở các hành lang. Những tiếng rên la thảm thiết, những tiếng chửi thề văng tục ầm vang cả bệnh viện. Đội ngũ Bác sĩ, nhân viên của bệnh viện cũng đã theo gia đình đi di tản. 
Tôi và cha nó bước vào phòng lạnh. Phải đi lùng sục một lát mới thấy xác nó. Vì thật ra cha nó và tôi cũng không biết nó đi lính với cái tên gì. Nó nằm lặng lẽ im lìm trong cái vỏ bọc nhựa màu trắng. Gương mặt trắng bệch và mũi của nó một dòng máu nhỏ cứ rỉ ra.
Theo thông lệ thì Quân y viện sẽ cho xe và lính hộ tống về đến nhà. Nhưng ở thời điểm loạn lạc thì làm gì có chuyện đó. Một chuyến xe lam ba bánh chở quan tài nó về phường Trung Thiện ( Đống Đa bây giờ ).
Nó được chôn cất ở chân núi bà Hỏa và ngày hôm sau gia đình nó cũng đã di tản vào Nha Trang.
Khắp các hang củng ngõ hẻm, các bà vợ lính ôm con lo lắng chập chờn. Xung quanh người ta đua nhau đi di tản mà chồng mình thì chưa thấy về. Họ cứ lo là khi Cộng Sản đến sẽ giết chết họ và con cái. Cộng sản sẽ rút móng tay để dài …Cộng Sản sẽ….Cộng Sản sẽ…và nói chung hàng loạt cảnh thời Trung cổ họ truyền tụng nhau nghe mà phát khiếp.
Sáng ngày 30/3 mấy anh lính của tiểu đoàn 207 ĐPQ đóng trên núi Một trốn xuống nhà tôi để xin đồ dân sự mặc về nhà. Núi Một ngày đó là Bộ chỉ huy của Chi khu Nhơn Định ( tương đương cấp Quận ) và là hậu cứ của Đại đội 108 Trinh sát của Tiểu khu. Cha tôi có hỏi thăm tình hình và biết rằng nhiều đơn vị Địa phương quân và Nghĩa quân đang dần dần tan rã. Cha tôi cũng có nói với mấy anh lính là cứ về nhà với vợ con, cha mẹ. Nếu có đi di tản thì đi còn không thì cứ ở lại lánh về các vùng quê cho an toàn. Cộng Sản cũng là người Việt Nam như mình. Không có gì đâu mà sợ. Nói là nói vậy chứ cha mẹ tôi lòng như lửa đốt vì các anh trai của tôi cũng đang lưu lạc nơi nào không có tin tức.

Ngày 31/3/1975.

Những đoàn xe chỏ người di tản nối đuôi nhau tiến về hướng Phú Tài. Tại sân nhà thờ Quy Đức nhiều chiếc xe đến đậu đầy sân để chở người đi. Đa số là xe ben chở cát (gọi là xe cát) và xe ba lua. Vài chục gia đình với hàng trăm con người nhồi nhét trong thùng xe. Tiếng gọi nhau í ới, ồn ào tiếng la khóc của trẻ con tạo thành một âm thanh hỗn độn.
Sáng hôm đó cha con tôi vẫn vác chài đi làm. Mẹ tôi không cho đi vì thấy chợ Tháp Đôi vắng người đi chợ đã nhiều. Nhưng cha tôi thì lại nghĩ khác. Không lẽ Quy Nhơn không còn một ai. Nói xong. Cha con tôi vác chài ra đi.
Hành trình cũng như mọi ngày quanh quẩn vùng Hưng Thạnh – Lương Nông. Có một điều bất thường mà tôi không hề để ý, dọc theo sông Lương Nông từ bờ tràn đến cầu 2 mấy người thanh niên chừng 18, 20 tuổi đánh lưới bén khá nhiều. Nẫu cứ nói là nay có ai ăn đâu mà cha con ông đi chài.

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)
Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh

Cảnh chụp ngả tư sông Lương Nông. Trưa ngày 31/3/1975 một nhóm anh em quân giải phóng đã chuyển vũ khí qua ngả này.

Đến trưa, khi bìm bịp từ ngoài biển bay vào kêu vang cả một vùng. Cha tôi bảo cuốn và giặt chài về. Đến đầu cầu 2 tôi thấy mấy anh thanh niên người nào cũng có chiếc sõng lưới gõ. Không biết trên đó họ chở gì mà be xuống đã lấp lém mé nước, chứng tỏ họ chở thứ gì khá nặng. Thấy cha con tôi họ lẩn hơi xa xa chiếc cầu. Có lẽ cha tôi là người tinh ý, ông biết chắc họ chở gì nên ông không đi theo đường từ cầu 2 vô cầu chữ I ( quanh đường viền bờ cá của @Restive Horse) mà ông lại vòng lên hướng sông Lương Nông để về ngả đồng muối. Khi đến ngả ba sông, cha con tôi cũng lại thấy mấy anh đánh lưới gõ cũng đang kéo những chiếc sõng gõ và trên sõng họ chất mấy cành mắm.


Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh

Đoạn sông giữa bờ ông Hộ và đồng muối. Nơi mấy anh du kích dùng sõng lưới gõ chở vũ khí vào đánh Quy Nhơn trưa 31/3/1975

Cha tôi nhanh chân lội băng qua đồng muối và lội qua sông để về nhà. Đến chân mỏm núi Một tôi thầy có mấy anh thanh niên đang leo từ mỏm đá ngay cuối mương nước gần nhà ông Tố. Thực ra, trước kia khi lính còn ở, dân không bao giờ dám bén mảng đến gần hay leo lên bất cứ vị trí nào của chân núi Một. Thấy tôi đến gần , họ mỉm cười và đi vào đám rau muống gần đó. 

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh
Đuôi núi Một giáp sông Hà Thanh. Một toán quân giải phóng đột nhập Núi Một.

Sau giải phóng, tôi gặp lại người thanh niên này mang súng AK và đứng gác ở cầu Đôi. Trong một lần tôi chài đám cá Dìa ở chân cầu, anh đến hỏi thăm. Tôi chỉ ngờ ngợ nhưng không dám hỏi anh điều gì. Năm 1977 tôi thấy anh mang sắc phục của ngành Công an ( ka ki vàng) và công tác ở đồn Công an phường Trần Hưng Đạo ở chỗ cây xăng gần bến xe cũ.

Trời tháng 3 nắng chang chang, từng đoàn xe nối đuôi nhau chạy. Hai bên đầu cầu lính gác cũng không còn. Hình như sự vội vã và hốt hoảng đều hiện rõ trên gương mặt của mỗi người.Trong giớ phút hoảng loạn gia đình nào cũng còn thiếu những người thân. Cha mẹ mong ngóng con. Những người vợ bế con ngóng chồng. Không một chuyến xe nào trở về Quy Nhơn chiều hôm ấy. Chỉ có những chuyến xe hối hả chạy vào hướng Nam.

Buổi trưa, tôi mang hộ hành lý cho mấy gia đình trong xóm ra ngoài đường để vào Sài Gòn. Khi ra đến cổng của trường Tiểu học Đống Đa hiện nay, tôi nghe một loạt súng nổ trước mặt mình và thấy một ông đứng tuổi hớt hải chạy vào trong xóm. Tôi lựng khựng không muốn đi nữa, nhưng đây là gia đình của “ người con gái ấy” nên cũng ráng đi với bộ mặt xanh như tàu lá chuối.
Một người lính tiểu đoàn 209 ĐPQ đã bắn hù ông tài xế chiếc xe ba lua khi không muốn chở gia đình vợ con của ông. Người tài xế bỏ chạy trốn, những người trên xe quay sang năn nỉ ông và chấp thuận cho gia đình ông có 5 nhân khẩu đi cùng.
Tôi trở về nhà và thấy gia đình tôi cũng đã chuẩn bị. Gần mười gia đình vợ con của lính trong xóm năn nỉ cha tôi cho theo cùng. Không còn con đường nào khác cha mẹ tôi đồng ý cho họ đi theo. Hầu hết chồng của họ đi lính ở ngoài tỉnh Bình Định. Đa số là lính Thủy quân lục chiến và Nhảy dù ở ngoài Quảng Trị và Huế. Một số ít là lính sư đoàn 22 đang ở Tân Cảnh và lính sư đoàn 23 ở Ban Mê Thuột.
Huế và Ban Mê Thuột đã giải phóng nhưng chồng của họ vẫn biền biệt. Sau giải phóng vài tháng có vài người trở về. Nhưng rất nhiều người mãi không về do nhiều hoàn cảnh khác nhau. Một số khác thì lên tàu của Hải quân Mỹ và sang định cư ở nước ngoài từ thời điểm đó.
Thình lình những tiếng nổ chát chúa từ núi Một. Những tiếng nổ không ngớt và có chiều hướng càng lúc càng khốc liệt hơn. Không chần chừ, cha tôi dẫn con cái và mấy bà vợ lính tay xách nách mang lên đường.
Khi ra đến cầu Đôi, mấy ụn khói trên núi Một đen ngòm bốc lên cao. Một dãy nhà dân trên trục đường lên núi Một bắt đầu bốc cháy.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Núi Một nhìn từ kho muối cũ trên đường ra Đông Định.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Mỏm đồi cao nhất của núi Một. Nơi đặt khẩu Đại liên M60 hướng về xóm Hưng Thạnh.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Vị trí 2 khẩu pháo 105mm và kho đạn ngày xưa. Chiều ngày 31/3/1975 pháo và đạn bị phá hủy trước khi lính ĐPQ rút chạy, gây ra đám cháy nhà của dân.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Bãi đáp trực thăng ngày xưa.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Núi Một nhìn xuống Tháp Đôi và xí nghiệp giày da Bình Định ( xưa kia là xưởng đắp lốp Kim Ngọc)

Phóng to (kích thước thật: 800 x 600)Hình ảnh
Cự ly giữa núi Một và " xóm Cộng Sản Hưng Thạnh"

Lúc đó khoảng 2 giờ chiều ngày 31/3/1975. Lịch sử sang trang .
QUY NHƠN CHIỀU 31/3/1975.


Những tiếng nổ liên tục vang lên giữa buổi chiều 31/3 từ núi Một. 
Lâu lâu lại có một ánh chớp lóe lên rồi một đụn khói cao đen ngòm bốc nhanh vào không trung. Lúc gia đình tôi vượt qua Cầu Đôi thì đoàn xe đi di tản vẫn tiếp tục lao nhanh trên đường 19. Khi đến ngả ba Ông Thọ cha tôi kiểm tra lại đội hình. Tính cả thì có 9 gia đình và gia đình tôi là 10. Những gia đình theo tôi thực chất là vợ và con của lính. Chồng họ không biết thế nào mà không thấy về. Nhiều người cố nán lại chờ chồng nhưng núi Một đạn nổ nên cũng khăn gói theo gia đình tôi. Hầu hết họ còn khá trẻ chừng 25 tuổi mới có vài đứa con. Như vậy cả đàn người khoảng 40 người. Những người vợ lính đều ở nhà thuê, khi ra đi chỉ có cái túi xách và tay bế con. Ai có 2 đứa thì dắt theo. Nhưng con nít thì nó đi thế nào được khi những tiếng nổ ầm ấm đuổi theo từ phía sau. Trời nắng chang chang không một chút mây.
Thấy cảnh tượng như vậy, cha tôi mới bảo tôi quay lại để lấy bó chiếu và xúc thêm một ít gạo trong cái ruột nghé mà mẹ tôi đã may sẵn. Khi quay về được một đoạn thì tôi thấy phía bên kia đường rẽ vào xóm Phú Huề, một chiếc xe đạp mới tinh ai đó đã vứt lại. Tôi băng qua đường và dựng chiếc xe lên để chạy.

Phóng to (kích thước thật: 1023 x 682)Hình ảnh
Đường vào Đèo Son 

Tôi lấy được bó chiếu và hơn 10kg gạo chất phía sau xe đạp. Do đạn nổ nên tôi cắm đầu chạy chứ không chú ý gì hai bên đường. Khi tời ngả ba vào kho đạn 521 ( đòe Son) thì tôi thấy một chiếc xe DOGE từ phía trong chạy ra. Tời đoạn đường rầy cắt ngang chiếc xe chạy chậm lại. Thình lính từ phía sau có 2 tiếng nổ chát chúa và chiếc xe bốc cháy. Tôi hoảng quá, vứt luôn chiếc xe đạp và lao nhanh vào trong vệ đường. Từ bên hông nhà Đào Giáo và Thanh Lưu, những chiến sĩ giải phóng thấp thoáng ẩn hiện. Từ phía Đèo Son những loạt đạn bắn trả lại về hướng mặt đường. Thấy tình hình không ổn, tôi chạy luồn vào trong xóm và nấp ngay dưới gậm Cầu Đôi. Súng hai bên vẫn nổ đều, không còn cách nào khác tôi bơi dưới gậm cầu để sang bờ phía bên kia. Được một lát thì không nghe tiếng súng nữa, tôi nhanh chóng băng qua đường đê ra Đông Định, men theo bờ cá ông Thịnh để đi. Khi hết phần đất bờ cá ông Thịnh là đến con đường vào khu gia binh ( dành cho gia đình của lính ở, sau giải phóng là công ty vật tư tỉnh Nghĩa Bình). Tôi ra đường 19 và đi về hướng chợ Dinh dể gặp gia đình.

Phóng to (kích thước thật: 1023 x 682)Hình ảnh
Gậm cầu Đôi nơi phải bơi để tránh đạn chiều 31/3/1975.

Khi đến ngả ba hãng nước đá Bạch Tuyết phía trên cầu chợ Dinh ( sau giải phóng là Công ty giống cây trồng Tuy Phước) tôi thấy một chiếc xe cát đậu ngay ngả ba. Trên xe không còn ai nhưng hàng hóa còn lại gần như nguyên vẹn. Không biết mấy người trên xe đi đâu, nhưng tôi chỉ thấy người tài xế chừng 50 tuổi chết úp mặt xuống đường ngay chỗ từ cabin xe bước xuống. Người tài xế này có lẽ bị đạn lạc.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Ngả ba Bạch Tuyết rẽ phải xuống Chợ Dinh.

Chỉ còn một mình tôi giữa một khung cảnh ghê đến rợn người. Tôi không dám vào trong xóm, vì dễ bị nhầm lẫn là lính nên cứ khom khom đi ngay mặt đường. Đi được một đoạn ngay chỗ đường rầy xe lửa cắt ngang, tôi gặp gia đình tôi đang núp dưới một cái ao ngay vệ đường. Thì ra trong quá trình tôi từ Quy Nhơn lên, hai bên đã có những cuộc chạm súng lẻ tẻ. Khi thấy tình hình đã lắng dịu cha tôi mới nói với tôi là xuống hãng nước đá Bạch Tuyết để xuống chợ Dinh. Khi tôi vừa dưới trũng bò lên đến mặt đường, thấy từ phía bên kia đồng ruộng một nhóm người có súng đạn đang băng qua đồng trống (nay là sau lưng trường CĐSP Bình Định). Ban đầu tôi cứ tưởng là lính, nhưng nhìn kỹ thì biết là quân giải phóng. Giữa lúc cha tôi đang còn phân vân chưa tính thế nào, thì có một chiếc xe lam chạy qua đường. Chiếc xe vừa mới chạy qua chừng 5 phút thì lại có một cuộc chạm súng giữa hai bên. Có những tiếng nổ to và những loạt đạn bay qua đầu. Thình lình có một tiếng xoẹt và một quả đạn nằm chình ình ngay mặt đường . May quá nó không nổ, chứ nổ thì chắc chắn là gia đình tôi không còn ai.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Một đơn vị quân giải phóng tiến ra trục đường Quy Nhơn – Phú Tài ( xa xa là Trường Đại học Quang Trung hiện nay đang xây dựng)

Khi đã im tiếng súng và thấy những bước chân chạy thình thịch trên đường, đoàn người thận trọng bò lên mặt đường để xem thế nào. Thì ra, phía trước chúng tôi có một đám cháy và những người lính giải phóng đang làm gì có vẻ vội vã. Thấy vậy, cha tôi mới lại xem chuyện gì thì ra chiếc xe lam khi nãy đã bị đạn bốc cháy. Trên xe không có người tài xế, chỉ có hình hài của hai người ( có lẽ là hai mẹ con đang bị ngọn lửa bao trùm). Hình ảnh người mẹ ẵm con đang dần dần co rút lại, nước từ trong người thỉnh thoảng nhỏ giọt xuống làm cho ngọn lửa bùng lê nghe xèo xèo. Cha tôi lấy hai thùng gánh nước của một nhà bên cạnh và múc nước tạt vào xe cùng với mấy anh giải phóng.
Có lẽ vì một điều gì đó, mấy anh giải phóng bảo cha tôi dẫn đoàn người quay lại Quy Nhơn. Không nên đi lên hướng cầu Sông Ngang – Phú Tài.
Tội nghiệp cho hơn chục đứa trẻ nhỏ, chúng chỉ biết khóc và có đứa nghe súng nổ sợ quá không không nổi. Chúng cứ bám vào mẹ với cặp mắt đầy kinh hãi.
Khi quay lại ngả ba Bạch Tuyết thì cũng đã có một lực lượng quân giải phóng xuất hiện chừng hơn mười người. Có một người nói giọng Bắc đến nói chuyện với cha tôi. Họ yêu cầu cha tôi dẫn mọi người xuống ngả ba chợ Dinh vì tình hình ở đó có vẻ đã an toàn tránh xa đường từ Quy Nhơn đi Phú Tài. Trên đường đi tôi lại nhắt được một chiếc xe đạp và đó là phương tiện duy nhất của hành trình, có hức năng chuyên chở đám con nít của đoàn người đi lánh nạn.
Khi xuống đến chợ Dinh cha tôi dẫn vào trường học Phước Hậu ( nay là trường THCS Nhơn Bình).
Khoảng trời chạng vạng có một anh giải phóng đến tìm cha tôi. Cha tôi nói chuyện rất lâu ngay bậc thềm của hành lang. Trông hai người nói chuyện có vẻ thân thiện lắm. Thỉnh thoảng tôi nghe anh xưng hô với cha tôi là “ ông Năm”
Khi đi anh còn dặn cha tôi nhanh chóng nấu cơm vì đến tối không ai được đốt đèn hay làm gì có ánh lửa trong đêm.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Ngả ba Chợ Dinh ( tâm điểm của bức hình là đường lên ngả ba Bạch Tuyết)

Mẹ tôi đến nói với cha tôi về chuyện ăn uống. Chỉ có nhà tôi là còn mang theo một ít gạo, còn mấy chị vợ lính thì không ai mang theo gì. Tay này bồng con, tay kia dắt con, vai mang giỏ đồ với mấy bộ quần áo. Chỗ nào nữa để mang theo thứ gì. Hơn nữa đời theo chồng đi lính có chị nào nghĩ đến cái cảnh dở khóc dở cười này. Khi nghe mẹ tôi nói vậy tôi thấy cha tôi buông tiếng thở dài. 
Cuối cùng thì một nồi cháo cũng được nấu. Mẹ tôi sang nhà người dân bên cạnh trường ( nay là cửa hàng tạp hóa đầu chợ Dinh) mượn cái nồi để nấu. Vì trời đã tối và theo lời anh lính giải phóng dặn, nên mẹ tôi cũng nấu nhờ ở nhà người đó vì kín đáo. Cái nồi nấu cháo là cái nồi đồng dùng để tráng bánh. Tôi nhớ rất chính xác là mẹ tôi lấy ra 2 lần với 5 lon gạo để nấu cháo. Mấy đứa nhỏ thì ăn đợt trước, người lớn ăn đợt sau.
Đêm đó tôi đói không tài nào ngủ được, nhưng không dám cử động vì sợ.
Cha tôi cũng không ngủ được vì gánh nặng trách nhiệm của cả một đoàn người, tất cả trông chờ vào những quyết định của ông. 
Nửa đêm thức dậy tôi nghe cha mẹ tôi đang bàn chuyện ngày mai. Nỗi lo của mẹ tôi cũng vẫn là chuyện gạo cơm.
Mẹ tôi òa khóc khi nghe cha tôi nói “ Thôi bà cứ nấu cho mấy đứa nó ăn. Ngày mai tôi sẽ tính. Con cháu mình giờ này cũng đang lưu lạc tứ phương không biết thế nào ? Cứ làm phước để con cháu mình cũng sẽ có người giúp qua cơn hoạn nạn chiến tranh.”
Chưa bao giờ trong đời từ nhỏ đến lúc đó, tôi trải qua một đêm dài như vậy.

Sáng sớm ngày 1/4/1975 một cơn mưa rào xuất hiện ở phố biển Quy Nhơn.

Mới tinh sương cha tôi đã dậy và gọi tôi đi theo. Ông ra ngả ba chợ Đinh với mục đích hỏi thăm tình hình. Mấy anh giải phóng nói giọng bắc đồng ý cho ông Cụ đi về Quy Nhơn “ Ta đã làm chủ thị xã Quy Nhơn từ chiều qua rồi. Cụ đi khẩn chương nhé !”. Lần đầu tiên tôi nghe từ “khẩn chương” và không hiểu nó nghĩa gì ?
Tôi lấy chiếc xe đạp chở cha tôi trở lại Quy Nhơn. Dọc đường về Quy Nhơn vắng không một bóng người. Dưới ngả ba ông Thọ tôi bị mấy anh du kích địa phương chặn lại hỏi. Thấy cha con tôi có vẻ là dân dã nên họ cho đi. Đúng là anh em giải phóng đã làm chủ tình hình, ngay cầu Đôi đã có khoảng vài chục chiến sĩ giải phóng đang ở đó. Họ cũng chặn lại và hỏi đi đâu? làm gì ? Rồi họ cũng cho đi với lời dặn là cẩn thận vì tàn quân có thể còn. 
“ Tinh thần là thế nhé ! Thôi cụ đi đi ” lời kết thúc của anh chiến sĩ giải phóng. Tôi cũng không hiểu “ tinh thần” là cái gì ??

Một cảnh hoang tàn ở ngay chân núi Một. Toàn bộ những dãy nhà đã bị thiêu rụi. Khói còn âm ỉ bốc lên do trời mưa. Những miếng tole cong queo nằm vương vãi khắp nơi. Trên núi Một tôi đã thấy mấy anh giải phóng đang nấu cơm. Thấy cha con tôi về, họ mang súng ống xuống hỏi thăm và sẵn tiện xin một ít muối và nước mắm.
Cha tôi vét hết số gạo còn trong nhà chừng vài chục ký, mấy chai nước mắm và những thứ cần thiết. Tôi bỏ hết vào trong bao và cột lên xe đạp. Gần nhà tôi có một gia đình trồng rau, trên giàn còn hơn 5 trái bí đỏ to đã già lên phần. Họ đã đi vào Nha Trang cách đó đã hơn tuần lễ. Cha tôi bẻ mất trái bí và bỏ vào bao cột hai bên xe. Lúc này xe thì dắt chứ không còn đạp được nữa.
Khi qua cầu Đôi một đoạn thì tôi nghe có tiếng nổ ầm ì xa xa ở hướng Tây. Tiếng nổ càng lúc càng nhiều. Thình lình một tiếng “dút.. dút..dút..” bay qua đầu và nó nổ ngay đường xe lửa gần cầu Đôi. Lúc này ở phía trước, tôi thấy có một sự hấp tấp vội vàng của mấy anh giải phóng. Họ chạy nhanh về hướng chợ Dinh. Liên tiếp mấy quả pháo rơi quanh dọc theo đường Quy Nhơn – Phú Tài. Hai cha con vừa chạy vừa đẩy chiếc xe đạp.

Khi đến ngả ba chợ Dinh nơi mấy gia đình trú đêm. Tôi thấy một nhóm người đang ở trần, hay mặc áo may ô, quần đùi đang tập trung tại ngả ba. Đó là số mấy anh lính Sài Gòn đầu hàng, hay bị mấy anh giải phóng bắt đang tập trung. 

Khoảng 9 giờ sáng, đạn pháo càng lúc nghe càng gần và có phần nhiều hơn khi sáng. Cha tôi bảo mọi người thu dọn đồ đạc để đi tiếp chứ không quay về Quy Nhơn.

Người chiến sĩ giải phóng mà cha tôi gặp chiều tối qua là con của một người bạn thân cùng làm bốc vác với cha tôi ở cảng khu I. Cha anh kêu cha tôi bằng chú, nên anh gọi cha tôi là “ Ông Năm”. Anh thoát ly gia đình năm 1971. Anh có thằng em kế cùng học chung với tôi.
Cha tôi có kể lại sau này là anh nói cha tôi nên dẫn gia đình về hướng Lòng Sông – Phước Thuận. Đó là miền quê mà ta đã làm chủ hoàn toàn đảm bảo an toàn nhất.

Mới qua chợ Dinh chừng mấy chục mét thì liên tiếp mấy quả pháo roi gần đó nổ đùng đùng. Cha tôi bảo mọi người chui vào một cái cống nước đưới mặt đường. Cả mấy chục con người chui vô một cái cống tránh đạn thì quả là chuyện nan giải. Mấy đứa nhỏ khóc la om sòm. Người lớn thì cũng khóc theo. Người thì sợ mắt xanh như tàu lá.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Cống nước tránh đạn pháo sáng 1/4/1975.

Đang lo lắng không biết điều gì thì anh giải phóng xuất hiện. Anh nói to với cha tôi “ Ông Năm lên nhà Bác Sáu con ở cầu số 8. Cha con chờ ông Năm trên đó!”. Nói xong anh chạy nhanh về hướng ngả ba Bạch Tuyết.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Cầu số 8

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Đường từ cầu số 8 ra cầu bến Gỗ.

Khi lên đến cầu số 8, người bạn cha tôi bảo mọi người bỏ lại những thứ gì không cần thiết. Nhanh chóng rời các trục đường Quốc lộ 19 cáng nhanh càng tốt. Ông cho mấy đứa cháu dùng xe đạp cùng với tôi chở toàn bộ mấy đứa bé ra cầu bến Gỗ trước. Mỗi chiếc xe đạp được gắn một miếng ván bề ngang chừng 30cm trên cái sườn ngang để cho mấy đứa ngồi. Những tiếng kêu la thảm thiết vì xa mẹ làm ai cũng chạnh lòng. Ra đến cầu bến Gỗ có một ngôi nhà tranh khá rộng không có người ở. Toàn bộ mấy đứa nhỏ được tập trung ở đó do tôi quản lý.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Nơi ở đêm 1/4/1975. Mầm sống đang lên ! ;) 

‘ Ông bạn của cha tôi quê ở Cát Chánh – Phù Cát bên sông Phú Hậu. Nhà ông ở sau lưng đồng muối Bảy Búa ( khu vực 4 phường Đống Đa hiện nay). Sau giải phóng, tôi mới biết bà con họ hàng gia đình ông là những cơ sở của cách mạng. Ông rất thân với cha tôi và có thể coi như người trong nhà. Ông không giấu cha tôi điều gì. Ông biết rõ về cha tôi là người có thiện cảm với cách mạng, nên nhiều điều ông tâm sự với cha tôi biết.
Tại sao suốt những năm tháng ở Quy Nhơn cha tôi được tự do ra vô vùng Hưng Thạnh khi người khác không dám qua khỏi cầu 2. Gần như ông là người bảo đảm cho cha tôi được thoải mái làm ăn.
Sáng ngày 1/4/1975 ông biết là ở vùng Tuy Phước, Quy Nhơn sẽ có đánh lớn. Quân giải phóng sẽ chận đánh đường rút của trung đoàn 47 sư đoàn 22 từ Tây Nguyên về. Ở thời điểm đó cơ quan đầu não chỉ huy giải phóng Quy Nhơn đang ở vùng Phước Thuận”.

Sáng ngày 2/4 gia đình tôi vượt cầu bến Gỗ và trú ở khu vực nhà thờ Lòng Sông.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Bến nước trước nhà thờ Lòng Sông

Sáng sớm ngày 2/4/1975.

Gia đình tôi cùng đoàn người lục đục qua cầu bến Gỗ. Vùng đất này cha tôi rất có nhiều người quen vì những ngày đi chài qua lại hoài nên ai cũng biết. Nhưng trong ngày đó hầu hết họ đóng cửa ở trong nhà. Cha tôi ngại nên không gọi ai. Thôi thì cứ đến nhà thờ Lòng Sông tiện hơn. Dù sao cũng là nơi tôn nghiêm tu hành.
Cả mấy chục con người tụ tập ngay cổng Chủng viện. Thấy cửa đóng, hai cha con tôi đẩy cửa bước vào bên trong. Khi gần đến cổng của nhà thờ, tôi thấy Cha Long vị linh mục coi sóc chủng viện bước ra. Hai cha con tôi gật đầu chào Cha. Cha tôi nhanh chóng trình bày ý định xin được ở trong rừng cây sao của chủng viện. Vì thường ngày cha con tôi cũng thường ghé đây nghỉ trưa. Linh mục mới cha tôi vào phòng và nói chuyện chừng 15 phút. 

Khi trở ra cha tôi đi cùng một người đàn ông trạc tuổi cha tôi. Người đàn ông đó dẫn cha tôi đến một ngôi nhà tranh khá rộng ở ngay bờ sông. Lát sau, cha tôi trở lại và dẫn cả đoàn người về ngôi nhà đó.

Một ngôi nhà xưa rất rộng. Diện tích sử dụng chừng 100m2 với nhiều phòng nhỏ. Có lẽ ngôi nhà này lâu lắm không có người ở. Mùi mốc thoang thoảng cả ngôi nhà. Mạng nhện giăng khắp lối đi. Trong khi chúng tôi đang dọn dẹp nơi ở, thì người đàn ông trong nhà thờ trở lại, chở theo một bao chừng vài chục ký gạo trên chiếc xe đạp cùng một ít cá đã kho sẵn trong nồi.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Đêm 2/4/1975 ở ngôi nhà này. Chủ nhân đã xây dựng lại khang trang hơn.

Đây là ngày đầu tiên mà chúng tôi có nơi ở ổn định. Ai cũng tranh thủ kiếm chỗ nghỉ ngơi. Riêng tôi được ông già giao cho nhiệm vụ ngồi phía trước ngôi nhà, coi ngó có gì thì báo lại cho ông. Ngồi một mình dưới gốc cây xoài, xung quanh là đồng lúa gần chín trong một không gian tĩnh lặng không bóng người. Không hiểu sao mà người dân ở đây không ai bước ra khỏi nhà trong ngày hôm ấy.

Dù không còn nhỏ tuổi nhưng thực tình ở thời điểm đó ngoài việc đi học và đi chài tôi không để ý đến một điều gì. Chiến tranh đã là chuyện bình thường của tôi. Những người anh quanh năm vắng nhà. Thỉnh thoảng lại có một người về ở nhà vài bữa rồi đi. Từ nhỏ đến lớn gia đình tôi chưa bao giớ có mặt đông đủ con cái. Mãi đến năm 2000 tức năm tôi đã qua tuổi 40 thì gia đình tôi mới có một cái Tết sum họp đầy đủ mười anh em.

Mẹ tôi sợ nhất là lính vào nhà, vì đó là những người mang đến những tin không lấy gì tốt lành. Mỗi lần nghe tin chở xác lính về, mẹ tôi không bao giớ dám ra coi nhưng luôn lắng nghe tin tức xung quanh. May thay, trong suốt chặng đường chiến tranh trước giải phóng và sau này gia đình tôi không nhận một tin buồn nào. 

Đêm đó, trong căn nhà không ánh đèn, xung quanh vắng lặng đến ghê người, chỉ có tiếng ếch nhái kêu khắp cánh đồng. Tôi nghe nhiều tiếng khóc nức nở âm thầm và tiếng thở dài của những người phụ nữ. Ngay cả mẹ tôi là người đã lớn tuổi cũng hai hàng nước mắt lăn dài trên gương mặt nhăn nheo.
Tôi vẫn được cha tôi giao nhiệm vụ thức để nghe ngóng xung quanh. Cha tôi sợ nhất là anh em lính Sài Gòn còn ẩn nấp đâu đó, ban đêm thấy chỗ nào có người thì mò đến. Đó là chuyện khá phức tạp trong thời điểm nhạy cảm nhất của chiến tranh.

Trời đã khuya, tôi đang ngồi ngay trước thềm để canh cho cả nhà, thì chị Hai Liên đến ngồi cạnh. Chị có hai đứa con, đứa lớn chưa đầy 4 tuổi và đứa sau hơn 2 tuổi. Chị đang mang bầu chừng vài tháng một đứa nữa. Năm đó chị 27 tuổi. Chị quê ở Bồng Sơn và gia đình chị cũng đang còn ở quê. Chị nói là quê chị cũng đánh nhau ghê lắm. Từ khi chị có trí khôn, chưa đêm nào chị biết đến một giấc ngủ trọn vẹn. Anh chị gặp nhau khi đơn vị Thủy quân lục chiến của anh về Đèo Nhong và Bồng Sơn. Quê anh ở Đà Nẵng nhưng cũng mồ côi cha mẹ, anh đã chọn Quy Nhơn để chị sinh sống do có nhiều bạn bè lính ở Quy Nhơn. Anh chị chỉ về chung sống với nhau chứ hai bên không cưới hỏi gì. Thời đó, chuyện lính đi đến đâu có vợ ở đó là chuyện thường. 

Anh đang ở Quảng Trị cùng với nhiều anh em trong xóm tôi thời đó. Nhưng anh và chị đã mất liên lạc gần một tháng không nhận được thư từ gì. Nỗi lo của chị là không biết anh còn hay đã chết ? Mai đây mẹ con chị sẽ sống ra sao? Làm gì để sống ? Chị nói đó là những điều đang cắn xé tâm hồn chị không thể ngủ được. Không hiểu chị nói thật hay đùa : Chị đến với anh trước hết là chị muốn rời khỏi mảnh đất Bồng Sơn tang tóc của chị, rồi sau đó mới đến tiếng gọi của con tim.
Cả hai vợ chồng chị rất đẹp đôi. Anh Thể chồng chị cũng rất là điển trai và tính hài hước. Mỗi lần về nhà, anh thường chơi với chúng tôi. Chuyện ông lính và mấy ông thanh niên choai choai thì cũng chẳng có gì, ngoài chuyện bày cho mấy thằng em tán gái. Thời đó anh gọi là “toán gói”.
Chị Liên là một phụ nữ cũng khá đẹp. Nhìn vào đôi mắt chị như có những ánh sao. Chị rất hiền, dễ chịu và rộng rãi. Tối tối chị hay nấu chè kêu mấy đứa trong xóm đến ăn và nói chuyện trên trời dưới đất. Chị cũng được học hành tử tế thời đó. Chị học xong đệ ngũ ( lớp 8) thì nghỉ vì chiến tranh.
Khi về sống với anh, chị là thiếu nữ mới lớn lên không có nghề nghiệp gì. Cuộc sống chị đều dựa vào tiền lương của lính. Nói chung thì không khá giả gì nhưng cũng không phải lo chuyện thiếu thốn, nếu biết lựa cơm gắp mắm.

Hình ảnh
Góa phụ trẻ ( Diễn viên Lê Vân trong phim Bao giờ cho đến tháng Mười)


Những đứa con chị rồi sẽ lớn lên, rủi thay không có cha thì cuộc đời sẽ đi về đâu ? Tuổi đời của chị hãy còn khá trẻ giữa thời loạn lạc.
Chưa có một bài văn nào ở nhà trường phổ thông thời đó đi vào đề tài này. Chỉ có dòng nhạc của Trịnh Công Sơn là có nói đến thân phận của con người trong chến tranh. Nhưng lúc đó, nhạc Trịnh được cho là nhạc phản chiến. Hát dòng nhạc đó coi chừng cũng vào đồn cảnh sát như chơi.
Đến giờ phút đó tôi mới giật mình vì những điều chị mới tâm sự. Tôi chẳng biết nói gì hơn ngoài chuyện an ủi chị. Cố gắng nuôi mấy cháu rồi chờ một thời gian nữa anh sẽ trở về với chị.

Nhìn lại xung quanh.
Chiến tranh điều dễ nhận ra nhất là những cuộc bố ráp bắt lính. Những tình yêu mới nhen nhóm của tuổi trẻ bị chia lìa. Có người mới kịp xốn xang một cái vóc eo thon dưới chiếc áo dài trắng thắt lưng ong. Chưa kịp nhìn sâu vào ánh mắt của người con gái nó có gì mà khủng khiếp, đến nỗi nhìn vào đó thằng nào cũng ú ớ nói không ra hơi…Có người lính khi chở xác về nhà đôi mắt còn mở như đang tự hỏi là tại sao mình chết ? Chị kể ngày cưới, chị còn chưa hết ngỡ ngàng với hạnh phúc chấm dứt thời con gái để làm vợ, thì đã chịu cảnh xa chồng. Nhiều cuộc ra đi, nhiều sự cách xa không có ngày trở về để được gần gũi. Người ngã xuống ngoài chiến trường cũng chỉ là một khoảnh khắc cực ngắn, rồi vĩnh viễn yên nằm dưới lòng đất. Nỗi đau xa vắng, mất mát của người còn sống mới là điều kinh khủng. Những người phụ nữ với cuộc đời bình lặng trong nỗi cô đơn. Còn gì để họ bám víu giữa dòng đời. Nhưng phải sống và cố gặm nhấm từng nỗi đau day dứt trên suốt một chặng đường đời. Điều còn lại của chị Liên và những người vợ lính khác trong chiến tranh của cả hai phía rất nặng nề. Nó quá sức tải của "đôi vai gầy guộc nhỏ như một cánh vạc bay" : Nuốt nước mắt vào lòng, cố vun vén cho những hạt mấm bé bỏng để hưởng lấy nguồn hạnh phúc trọn vẹn từ những mất mát đau thương. 
Tiếng con bé Thảo khóc đã đưa về với thực tại. Chị vào nhà để dỗ nó ngủ. Trong đêm thanh vắng là cô đơn không hiểu chị nghĩ gì ?

Sáng ngày 3/4/1975, trước khi về lại Quy Nhơn để coi tình hình nhà cửa. Tôi thấy đôi mắt đẹp của chị một quầng thâm đen. Hãy còn đó hình như một chút muối của tuyến lệ rơi. Vị mặn đó, có đáng là gì giữa một bể khổ bao la.

Phóng to (kích thước thật: 750 x 500)Hình ảnh
Đường đê về lại Quy Nhơn qua ngả Đông Định sáng 3/4/1975 

QUY NHƠN THÁNG 5/1975.

Gia đình tôi trở lại Quy Nhơn khi thành phố im tiếng súng chừng mấy bữa. Từ Lòng Sông cả gia đình theo men đê Đông Định để về Quy Nhơn. Khoảng ngày 10/4 có một cuộc mít tinh lớn ở sân vận động. Chủ tịch đầu tiên của UBNDCM tỉnh Bình Định Nguyễn Trung Tín dáng người cao và gầy đứng trên bụctuyên bố những chính sách mới của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Điều được nhấn mạnh nhiều nhất là chính sách khoan hồng của chế độ mới với những người đã tham gia chế độ Sài Gòn. Kêu gọi tình hòa giải hòa hợp dân tộc. Quyết tâm xây dựng một xã hội mới ấm no và hạnh phúc. Đây là lần đầu tiên được thấy những chiến sĩ giải phóng đội mũ tai bèo mà ngày trước quen gọi là Việt Cộng hay Cộng Sản. Nét rạng rỡ trên khuôn mặt của những người vừa mới giành được chiến thắng. Đa số nói giọng Bắc và có những cử chỉ thân thiện và đầy thiện cảm với người dân.
Trên núi Một có một đơn vị bộ đội chừng mấy chục người thường xuyên xuống các nhà xung quanh để tuyên truyền những điều mà chính quyến mới quan tâm. Có thể nói rằng đó là những người rất lịch sự và lễ phép khi tiếp xúc với dân. Họ không có làm gì để phiền đến dân. Mấy anh cũng nhờ dân mua hộ những bó rau muống, thỉnh thoảng còn xin chút muối chút mắm về ăn. Trong những ngày đó, cứ mỗi khi tôi đi chài các anh thường mang súng đi theo. Vì dân chưa về nhiều, chợ Tháp Đôi vắng tanh nên toàn bộ cá tôi đều bán lại cho đơn vị của các anh. Đơn vị trả bằng tiền của chính quyền Sài Gòn. Nhờ mối lái này mà nhà tôi vượt qua những khó khắn ban đầu của những ngày mới giải phóng.
Ngay từ những ngày đầu tiên tôi đã có cảm tình với mấy anh giải phóng. Họ cũng là con người bình thường. Họ cũng được học hành tử tế như những người khác. Có anh Gọn quê ở Cẩm Định – Cẩm Giàng – Hải Hưng là sinh viên khoa Văn của trường ĐHTH Hà Nội nhập ngũ vào nam năm 1971. Trong thời gian đầu, anh thường xuyên đến nhà và mượn đọc một số tác phẩm văn chương của nhóm Tự lực Văn đoàn, những sách Tuổi Hoa ngày ấy. Có khi hai anh em ngồi nói chuyện học hành chữ nghĩa suốt cả đêm.
Trong ba lô của anh vẫn còn cuốn lưu bút. Trong đó có rất nhiều bài thơ của bạn bè. Phải công nhận một điều nét chữ của người miền Bắc khác xa với cách viết của người miền Nam. Trong lúc nói chuyện, anh không bao giờ nói đến chuyện chính trị hay những gì đang xảy ra ở thời điểm giao thời giữa hai chế độ.
Anh cũng cho tôi xem những lá thư của người yêu. Chị là công nhân của nhà máy xà phòng Hà Nội. Anh vẫn còn giữ cả hộp kem đánh răng mà chị đã tặng anh khi lên đường (không hiểu sao nhà máy xà phòng mà lại sản xuất cả kem đánh răng). Lần đầu tiên trong đời tôi nhận ra tình yêu nam nữ trong chiến tranh. Điều mà tôi suy nghĩ rất nhiều ngày đó là tình cảm của họ dành cho nhau. Chị luôn nhắc lại những kỷ niệm lãng mạn của hai người bên hồ Tây, lời thề non hẹn biển của cuộc tình. Anh kể tôi nghe về mùa thu Hà Nội về mùa hoa sữa ( lúc đó hình như Quy Nhơn chưa có loại cây này).

( Năm 1982 trên đường từ tuyến lửa Hà Giang về lại miền Nam. Tôi đã có dịp thưởng thức hình ảnh Hà Nội mùa hoa sữa. Từ binh trạm 99 trên đường Nam Bộ, những anh lính miền Nam rảo qua những đường phố Hà Nội về đêm. Mùi hoa sữa ngát hương trên đường Thanh Niên. Ngồi bên bờ hồ Thiền Quang (hay Thiện Quang?) những cơn gió thoảng qua với mùi hoa nồng nàn trong sắc trời Thu chuyển sang Đông. Không khó để nhận ra rằng chính mùi hoa sữa đã khắc sâu vào trái tim của anh chị một tình yêu đẹp. Khi chia tay nhau ai cũng mang những nỗi nhớ bâng khuâng, xốn xang, xao xuyến của con tim hừng hực lửa tình yêu.”

Lúc đó tôi mới nhận ra sao ngày trước họ tuyên truyền về những người Cộng Sản kinh khủng vậy. Ấn tượng nhất có lẽ là bức tranh vẽ 7 anh giải phóng đu cái tàu đu đủ nhưng không chìm.

Ngày 5/5/1975.

Tôi nhận được thông báo của UBNDCM phường Trung Thiện ( lúc đó vẫn gọi theo tên cũ, nay là phường Đống Đa) yêu cầu tập trung về trụ sở Phường để nhận công tác của chính quyền.
Sau khi giải phóng Sài Gòn xong, chính quyền tỉnh Bình Định bắt đầu đưa cuộc sống trở lại bình thường. Tầng lớp thanh niên đóng vai trò tích cực trong các hoạt động địa phương. Chủ yếu tập trung vào công tác tuyên truyền vận động, kẻ khẩu hiệu hay làm áp phích. Ban đêm tập trung ca hát các bài hát cách mạng như : Bác cùng chúng cháu hành quân, Bão nổi lên rồi, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng.

Thời gian đó người dân chưa trở về nhiều. Phố xá vắng bóng người, trong suy nghĩ của nhiều người, nhiều gia đình đang lắng nghe những động tĩnh xung quanh để thăm dò về một chế độ mới. 
Tôi sinh hoạt chung cùng với nhóm sinh viên trường Sư Phạm Quy Nhơn về hoạt động phong trào. Các anh chị sinh viên đa số đang học năm thứ 2 hay chuẩn bị ra trường (cùng thế hệ với ca sĩ Lý Anh Võ hay hát trên Đài truyền hình Quy Nhơn ngày mới giải phóng, đến nay có người đã hưu hay chuẩn bị về hưu ) đã tham gia tích cực trong những ngày đó.

Ngày 15/5/1975 là ngày lễ mừng chiến thắng của tỉnh Bình Định.

Lần đầu tiên trong đời tôi được thấy pháo hoa. Trong chiến tranh chỉ biết có hỏa châu ban đêm do máy bay thả kèm theo cái dù to. Ánh sáng hỏa châu gợi lên điều gì của chiến tranh đau thương. Pháo hoa thì khác, gợi lên những gì đẹp đẽ trong thời khắc thanh bình. Pháo được bắn từ khu vực Hải Minh. Tôi và mấy đứa em bế cháu cùng leo lên núi Một để nhìn cho rõ.

Dự án lọc hóa dầu Nhơn Hội (Bình Định)

đăng 20:08, 25 thg 1, 2013 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 10:44, 16 thg 9, 2014 ]

PTTPLC Logo.


"Dự án lọc hóa dầu Nhơn Hội (Bình Định) có thể chiếm 10% GDP cả nước" 

(ĐCSVN) - Ngày 22/11, tại thành phố Quy Nhơn (Bình Định), Tập đoàn Dầu khí Thái Lan – PTT đã thông qua báo cáo tiền khả thi Dự án lọc hóa dầu Nhơn Hội với tỉnh Bình Định. Theo Tập đoàn này, Dự án lọc hóa dầu Nhơn Hội có thể đóng góp 10% giá trị GDP cả nước bắt đầu từ năm 2019.

 Phó tổng giám đốc PTT Sukrit Surabotsopon báo cáo tiền khả thi dự án
 trước lãnh đạo tỉnh Bình Định.

Phó tổng giám đốc PTT Sukrit Surabotsopon khẳng định những lợi thế cạnh tranh về điều kiện của Nhơn Hội so với nhiều địa điểm khác cả trong và ngoài nước để xây dựng tổ hợp lọc – hóa dầu quy mô lớn. Theo đó, PTT đề xuất triển khai Dự án khu liên hợp lọc hóa dầu Nhơn Hội hoàn toàn mới với quy mô 2.000 ha, tổng vốn đầu tư 28,7 tỉ đô la Mỹ, công suất 660.000 thùng/ngày (30 triệu tấn/năm), sử dụng 15.000 lao động trực tiếp. Các nhà máy trong khu liên hợp sẽ tập trung mạnh trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm hóa dầu; mô hình đề xuất của dự án là sản xuất Olefins và Aromatics từ 32% lượng dầu thô. Phó tổng giám đốc PTT Sukrit Surabotsopon cho biết, khi đi vào hoạt động, giá trị sản xuất của Khu liên hợp lọc hóa dầu Nhơn Hội có thể chiếm 10% GDP của nước ta.

Dự án Khu liên hợp lọc hóa dầu Nhơn Hội được đề xuất xây dựng tại Khu kinh tế Nhơn Hội, thuộc thành phố Quy Nhơn. Vị trí xây dựng có thuận lợi là nằm trên một bán đảo, mặt bằng rộng, đất sạch, phía đông có dãy núi chắn ngang, được ngăn cách với khu dân cư của thành phố bằng một vịnh biển. Trong khu vực này có cảng biển container, địa điểm hút dầu thô có thể xây dựng cách nhà máy 2km (nhiều nhà máy khác thường trên 20km); có thể sử dụng nguồn nước ngọt từ sông Kôn… Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng vừa khởi công xây dựng Trạm biến áp 110KV và nhánh rẽ tại đây càng tạo điều kiện tốt hơn để triển khai dự án.

Ông Sukrit Surabotsopon nói, dự án đề xuất sử dụng công nghệ hiện đại, sản phẩm đạt chất lượng cao; tập hợp xây dựng tích hợp nên giảm tối đa giá thành đầu tư và đạt lợi nhuận cao. Theo tính toán của PTT, suất đầu tư của dự án là 20.000 đô la Mỹ/thùng/ngày, tỉ suất hoàn vốn nội bộ đạt 14,8% (có khả năng cao hơn), lợi nhuận cao hơn các nhà máy lọc hóa dầu khác của thế giới từ 3 – 24,2 đô la Mỹ/thùng; tổng lợi nhuận đạt 33,5 tỉ đô la Mỹ/năm. Khu liên hợp có khả năng cạnh tranh với bất kỳ khu liên hợp hay nhà máy lọc – hóa dầu nào trên thế giới.

Giải trình về nguồn vốn đầu tư và nguồn dầu thô nguyên liệu, ông Sukrit Surabotsopon cho biết, việc huy động vốn từ 3 nguồn với sự đóng góp của PTT, các đối tác trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài, mỗi nguồn huy động 1/3 nguồn vốn, trong đó 50% vốn tự có và 50% vốn vay. Mộ số đối tác nước ngoài cũng đã có hướng đầu tư với PTT. Lượng dầu thô nguyên liệu được PTT đảm bảo đầu vào từ Trung Đông (45%), châu Phi (25%), Trung và Nam Mỹ (30%).

Từ nay đến cuối năm, PTT và UBND tỉnh Bình Định sẽ trình báo cáo tiền khả thi dự án với các bộ, ngành trung ương trước khi trình Chính phủ. Nếu được sự chấp thuận của Chính phủ, PTT sẽ triển khai ngay các bước tiếp theo của dự án nhằm có thể khởi công vào năm 2016 và đến năm 2019, khu liên hợp sẽ đi vào hoạt động.

Hiện tại, PTT cũng được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam mời tham gia các dự án lọc – hóa dầu khác, tuy nhiên, ông Sukrit Surabotsopon nói, điều kiện xây dựng Khu liên hợp lọc hóa dầu quy mô lớn tại Nhơn Hội thuận lợi hơn các nơi khác./.

http://dangcongsan.vn/

logo2.jpg.

Thái Lan muốn xây nhà máy lọc dầu 28,7 tỷ USD tại Việt Nam

Nhà sản xuất dầu và khí gas lớn nhất Thái Lan đang cân nhắc xây một tổ hợp lọc hóa dầu khổng lồ tại miền Trung Việt Nam.

Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT) muốn đầu tư vào dự án lọc dầu lớn nhất Việt Nam.

Theo tuyên bố của Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT), họ muốn xây dựng một nhà máy lọc dầu có công suất 660.000 thùng mỗi ngày tại khu công nghiệp Nhơn Hội ở tỉnh Bình Định. Với sản lượng trên, đây sẽ là một trong những nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới. Dự kiến tổng vốn đầu tư sẽ ở mức 28,7 tỷ USD, theo tin đưa từ hãng Dow Jones Newswire.

Hôm 22/11, Cổng thổng tin điện tử của UBND tỉnh Bình Định cũng cho biết lãnh đạo tỉnh vừa có cuộc làm việc với ông Sukrit Surabotsopon - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Thái Lan, nghe ông này giới thiệu báo cáo tiền khả thi dự án khu liên hợp lọc hóa dầu.

Trả lời hãng tin Dow Jones Newswire, ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cho biết dự kiến nhà máy sẽ được khởi công từ 2016 và những thùng dầu đầu tiên sẽ ra lò vào năm 2019. "Phía PTT đã thể hiện quyết tâm rất cao, do đó chúng tôi tin rằng họ có thể thực hiện được dự án", ông Lộc phát biểu.

Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định cũng cho biết thêm phía PTT đã gặp gỡ một số công ty Việt Nam để bàn về khả năng hợp tác trong dự án này, trong đó có Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) và Tổng công ty Xăng dầu Quân đội.

PTT hiện là hãng lọc hóa dầu lớn nhất Thái Lan.
PTT hiện là hãng lọc hóa dầu lớn nhất Thái Lan. Ảnh: Thailand Business News

Về phía PTT, Giám đốc điều hành của hãng, ông Nattachat Charuchinda xác nhận rằng họ vừa trình bày bản kế hoạch dự án trước các quan chức cấp tỉnh Bình Định hôm thứ năm vừa rồi. Ông cho biết nguồn nguyên liệu dầu thô để phục vụ cho nhà máy sẽ được nhập từ Trung Đông và dự án sẽ bao gồm cả một nhà máy sản xuất các chất thơm để xuất sang Trung Quốc.

Hiện Việt Nam mới có một nhà máy lọc hóa dầu duy nhất là Dung Quất với sản lượng 130.000 thùng mỗi ngày. Sau khi đi vào hoạt động từ năm 2009, nhà máy Dung Quất đáp ứng được khoảng một phần ba nhu cầu trong nước.

Động thái của PTT diễn ra trong thời điểm đang có nhiều nhà đầu tư ngoại khác đổ tiền xây nhà máy lọc dầu tại Việt Nam. Trả lời VnExpress.net mới đây, Tổng Giám đốc PetroVietnam Đỗ Văn Hậu cho biết dự kiến cuối năm nay, dự án xây dựng nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn sẽ đến giai đoạn ký hợp đồng tổng thầu. Nhà máy được thiết kế với công suất khoảng 200.000 thùng mỗi ngày sau khi đi vào hoạt động. Trong số các chủ đầu tư của dự án có hãng lọc dầu lớn thứ ba của Nhật Idemitsu Kosan và công ty đến từ Kuwait - Kuwait Petroleum International (mỗi bên sở hữu 35,1% cổ phần), PetroVietnam và một công ty khác đến từ Nhật - Mitsui Chemicals sở hữu lần lượt 25,1% và 4,7% còn lại. Idemitsu Kosan mới đây tiết lộ việc rót vốn đầu tư có thể chậm lại do khó khăn về tài chính.

Một công ty khác của Thái Lan là Siam Cement PCL cùng đối tác đưa ra kế hoạch xây tổ hợp lọc hóa dầu Long Sơn trị giá 4,5 tỷ USD ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Siam Cement và các công ty con sẽ chiếm 48% cổ phần tại dự án. Số cổ phần còn lại có thể thuộc về các công ty Qatar International Petroleum Marketing, Tasweeq, Petrolimex hay PetroVietnam. Tuy nhiên, dự án này đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn, do đó đã bị trì hoãn từ năm 2009 đến nay.

Thanh Bình

vnexpress.net


Dự án lọc hoá dầu Nhơn Hội 28,7 tỉ USD

Theo Ban Quản lý Khu Kinh tế Bình Định, có thể một phần nguồn vốn mà Tập đoàn Dầu khí Thái Lan - PTT đầu tư vào dự án lọc hóa dầu Nhơn Hội là từ các doanh nghiệp Trung Quốc 

Mới đây, tại TP Quy Nhơn, Tập đoàn Dầu khí Thái Lan PTT đã thông qua báo cáo tiền khả thi dự án lọc hóa dầu Nhơn Hội với lãnh đạo tỉnh Bình Định. Theo đó, PTT đề xuất triển khai dự án khu liên hợp lọc hóa dầu Nhơn Hội tại Khu Kinh tế Nhơn Hội với quy mô 2.000 ha, tổng vốn đầu tư 28,7 tỉ USD, công suất 660.000 thùng/ngày, sử dụng 15.000 lao động trực tiếp.

Dự án lọc hóa dầu của PTT đề xuất triển khai tại Khu Kinh tế Nhơn Hội

Nếu được Chính phủ chấp thuận, dự án có thể khởi công vào năm 2016, đi vào hoạt động năm 2019 và có thể đóng góp 10% giá trị GDP cả nước.

Cách đây hơn một năm, tại Khu Kinh tế Nhơn Hội cũng có dự án lọc dầu được một công ty dầu khí khác của Thái Lan là STFE đề xuất đầu tư với số vốn 1 tỉ USD.  “Tuy nhiên, sau khi có ý định đầu tư vào dự án này thì PTT nhận thấy nếu chỉ với quy mô 10 triệu tấn và chỉ là lọc dầu thôi thì sẽ không hiệu quả.

Do vậy, họ đã quyết định đầu tư một dự án với công suất 33,6 triệu tấn/năm nên vốn đầu tư mới đẩy lên cao như vậy. Tôi cho rằng vị trí xây dựng dự án là khá thuận lợi” - ông Man Ngọc Lý, Trưởng Ban Quản lý Khu Kinh tế Bình Định, giải thích.

Theo ông Lý, khi trình bày báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, phía PTT đã đề cập cơ cấu vốn cho dự án gồm 50% là vốn chủ sở hữu và 50% vốn vay thương mại. Trong đó, PTT sẽ chịu trách nhiệm 1/3 phần vốn cho dự án; 1/3 được kêu gọi từ các đối tác của PTT ở Việt Nam và phần còn lại được thu hút từ các đối tác chiến lược cung ứng dầu cho dự án.

“Qua thời gian làm việc với PTT, tôi nhận thấy tập đoàn này có thái độ làm việc và kế hoạch đầu tư nghiêm túc. PTT là một tập đoàn lớn của Thái Lan, có nhiệm vụ phải triển khai xây dựng một dự án lọc hóa dầu lớn. Nhiều lần làm việc, PTT đều khẳng định dự án khả thi, có mức thu hồi vốn lớn, lợi nhuận cao và có tính hấp dẫn.

Tuy nhiên, chúng tôi đã yêu cầu khi nộp báo cáo nghiên cứu khả thi, nhà đầu tư phải đồng thời có các văn bản xác minh về nguồn vốn đầu tư. Vì vậy, điều quan trọng là phải xác minh được khả năng tài chính của các đối tác còn lại thì mới biết dự án có chắc chắn khả thi hay không” - ông Lý cho biết.

Về việc có ý kiến cho rằng nguồn vốn chính đầu tư cho dự án lọc hóa dầu Nhơn Hội của PTT có thể là từ các doanh nghiệp của Trung Quốc, ông Lý nhìn nhận: “Theo trình bày của PTT về báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, 1/3 vốn đầu tư được thu hút từ các đối tác chiến lược cung ứng dầu cho dự án. Do vậy, cũng có thể là trong số các đối tác cung ứng dầu của họ có doanh nghiệp Trung Quốc. Tuy nhiên, tôi cho rằng nếu có thì số vốn này chiếm tỉ lệ cũng không nhiều”.

Không dùng cùng lúc 15.000 lao động

Nhiều ý kiến tỏ ra lo ngại rằng nếu dự án lọc hóa dầu Nhơn Hội được triển khai, tính an ninh trật tự địa phương khó bảo đảm vì PTT sử dụng tới 15.000 lao động trực tiếp. Theo ông Lý, dự án nếu được thông qua sẽ triển khai nhiều giai đoạn trong một thời gian dài, không phải cùng một lúc. “Đầu tiên là xây dựng các nhà máy lọc dầu, sau đó mới tiếp tục triển khai các nhà máy hóa dầu. Do vậy, sẽ không có chuyện PTT cùng một lúc sử dụng 15.000 lao động trực tiếp. Với số lao động tiếp nhận từng đợt rải rác như vậy, tôi cho rằng không ảnh hưởng gì lớn đến tình hình an ninh trật tự địa phương” - ông Lý khẳng định.

 

Theo NLĐO  



Trang của tập đoàn dầu khí Thái Lan PTT:

http://www.pttplc.com

Nhiệm vụ của các PTT với các bên liên quan. (Các bên liên quan) Namco. Chỉ cần tạo ra công ăn việc làm và lợi nhuận. Cũng giống như một doanh nghiệp, nhưng chúng ta cần phải tính đến lợi ích của nhân dân và đất nước là quan trọng, chúng ta phải hành động. Để tạo an ninh năng lượng. Sản xuất có nguồn gốc trong việc theo đuổi của doanh số bán hàng. Và dễ nhận biết khuyến khích người dân thực hiện quyền và trách nhiệm của họ trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, năng lượng và kiến ​​thức. Chẳng hạn như tính chẵn lẻ. Thế giới ngày nay và trong tương lai, bởi vì chúng tôi tin rằng Khi chúng ta có an ninh năng lượng và phát triển bền vững. Sẽ có thể tạo ra của cải. Tốc độ tăng trưởng kinh tế và năng lượng bền vững cũng như các tổ chức quốc gia. Chúng tôi đã có để làm cho đất nhiều hơn cũng như mang lại nụ cười cho những người ở Thái Lan. Để hạnh phúc trên thế giới này đẹp bền vững.img-về-pic1.png.

PTT GROUP MISSION. 
Trách nhiệm

Năng lượng và kinh doanh hóa dầu là một công ty năng lượng tích hợp với một nhiệm vụ của các bên liên quan quốc gia trong sự chăm sóc của sự cân bằng. Do đó

img-về-picmission1.png.An ninh năng lượng dài hạn bằng cách cung cấp một lượng vừa đủ tiêu chuẩn chất lượng năng lượng. Và công bằng để tăng cường sự tăng trưởng kinh tế.img-về-picmission4.png.Việc tổ chức xã hội. Quản lý kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường. Và góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống trong cộng đồng.
img-về-picmission2.png.Hỗ trợ sự phát triển của công việc chuyên môn liên tục.Để đảm bảo chất lượng cuộc sống và công việc của nhân viên, công ty bằng lớp. Cam kết tổ chức.img-về-picmission5.png.Kinh doanh thương mại. Có thể tạo ra lợi nhuận tốt. Và việc mở rộng và tăng trưởng bền vững.
img-về-picmission3.png.Hợp tác kinh doanh trên cơ sở công bằng theo hướng xây dựng lòng tin và mối quan hệ hợp tác tốt đẹp. Phát triển năng lực và hiệu quả của sự kết hợp kinh doanh trong dài hạn. img-về-picmission6.png. Sự hài lòng và cam kết cho khách hàng của chúng tôi bằng cách cung cấp sản phẩm chất lượng và dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế. Giá là công bằng.



PTT GROUP 


PTT Nhóm Web Site.
Kinh doanh.

Ảnh: Kate ngân hàng bên phải.

Ảnh: Kate phải tay ngân hàng đưa ra dầu thông minh đầu tiên của Thái Lan "PTT thông minh Công nghệ nhiên liệu-up".


Ảnh: PTT và quà tặng cho các giáo viên và trẻ nhỏ ba tỉnh biên giới phía nam.

K phải tay ngân hàng.

Ảnh: PTT Thái Lan mở rộng lực lượng thị trường và AEC.

Nghiệp tuồng như duyên nợ vấn vương

đăng 08:39, 22 thg 12, 2012 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 10:53, 16 thg 9, 2014 ]

Cùng sống và làm việc với NSƯT Ðào Duy Kiền trong thời gian dài, từ Ðoàn tuồng Liên khu V đến Nhà hát tuồng Ðào Tấn, tôi biết nhiều về hành trình đi theo nghiệp tuồng của anh, và trân quý một con người luôn “sống đầy” với con đường nghệ thuật đã chọn.

1. Năm 1954, rời quê hương Quảng Trị, NSƯT Đào Duy Kiền theo cha tập kết ra Bắc. Năm 1959, anh thi vào lớp Nhạc công tuồng - Trường ca kịch dân tộc, khóa đầu tiên (1959-1963) tại Hà Nội. Ra trường, anh được điều về làm nhạc công Đoàn tuồng Liên khu V; tiếp tục được đi học bổ túc âm nhạc tại Trường Âm nhạc Việt Nam và được giao làm chỉ huy, sáng tác.

Năm 1970, anh “bén duyên” với sáng tác nhạc cho sân khấu tuồng bằng 2 vở đầu tay “Đêm giao thừa” (tác giả kịch bản Nguyễn Tường Nhẫn), “Sư già và Em bé” (tác giả Kính Dân). Sau đó là sáng tác nhạc cho các vở “Mũi tên nhung”, Đường lên Khuôn Mánh”…

 
NSƯT Đào Duy Kiền (thứ 2 từ phải sang) hướng dẫn đội nhạc Bảo tàng Tây Sơn tập bài “Trống trận Quang Trung”.

Năm 1976, Đoàn tuồng Liên khu V được Bộ Văn hóa chính thức bàn giao về Bình Định, anh tình nguyện lập nghiệp lâu dài trên vùng quê mới. Khi Nhà hát tuồng Đào Tấn thành lập, hàng chục vở tuồng tiêu biểu từ Đoàn tuồng Liên khu V được phục dụng; nhiều vở diễn về đề tài cổ, lịch sử, dân gian, hiện đại, đủ dạng thể tài được xây dựng bổ sung. Anh đã làm tròn vai người chỉ huy và sáng tác nhạc cho các vở “Đô đốc Bùi Thị Xuân”, An Tư công chúa”, Tiết Giao trả ngọc”… Đồng thời, tham gia cùng các nhạc sĩ khác trong vở “Nàng Sơ Kun Tơ La” (với Lê Yên, Thao Giang), “Sao Khuê trời Việt” (với Nguyễn Viết), “Mặt trời đêm thế kỷ” (với Phan Quý), “Sáng mãi niềm tin” (với Y Vân, Hoàng Hải), “Bùi Thị Xuân hồi kết cuộc” (với Gia Thiện)… Trong số này, nhiều vở đã đoạt HCV tại các hội diễn, liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc và giải thưởng của hội nghề nghiệp. Anh cũng đóng góp tấm HCV từ Hội diễn về sáng tác nhạc cho sân khấu tuồng.

2Sáng tác nhạc cho nghệ thuật sân khấu tuồng, NSƯT Đào Duy Kiền là một trong số ít nhạc sĩ viết với số lượng nhiều nhưng vẫn chú trọng đến chất lượng. “Ngôn ngữ của âm nhạc là âm thanh, nhưng nghe hay chưa đủ mà còn phải đúng, phù hợp với nội dung, hoàn cảnh, tình huống, tính cách từng nhân vật. Những điều này tất yếu phải hòa quyện với đặc trưng, tính chất của âm nhạc tuồng truyền thống”, NSƯT Đào Duy Kiền chia sẻ.

Nhiều bài nhạc do anh sáng tác đã được ghi nhận, không những làm tốt chức năng hỗ trợ biểu diễn theo yêu cầu mà còn góp phần nâng tầm hiệu quả. Điều đáng quý là những tác phẩm ấy trong chừng mực nhất định đã thể hiện ý nghĩa “chỗ nào tiếng nói sân khấu bất lực thì ở đó có âm nhạc. Nếu diễn viên là trung tâm của sân khấu thì âm nhạc là linh hồn của vở diễn”. Một số bài bản nhạc anh sáng tác được chọn dùng trong ca khúc “Hội mừng chiến thắng”(trong nghi lễ tôn vương sau mỗi đêm hát án); các ca khúc, bài bản nhạc không lời được dùng trong các lễ hội của tỉnh.

NSƯT Đào Duy Kiền vẫn thường nói: “Tôi có được kết quả như ngày nay là nhờ được học tập trong nhà trường, thực tế tiếp nhận từ các văn nghệ sĩ tài hoa, kinh nghiệm được rút ra qua nhiều năm làm nghề, cộng với sự đam mê nghề nghiệp”. Nhưng với những người trong nghề và khán giả mộ tuồng, ở NSƯT Đào Duy Kiền còn có sự hòa quyện của tâm hồn và năng khiếu âm nhạc, nhận thức và am hiểu nghề nghiệp, trong thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc. 

3. Giỏi nghề, anh rất coi trọng việc đào tạo đội ngũ nghệ sĩ kế tục. Đó là lý do để anh tham gia 4 khóa dạy nhạc công tuồng tại Trường Trung cấp VH-NT Bình Định bằng giáo án được kết nối giữa kiến thức âm nhạc phổ thông với thực tế nghề nghiệp. Về hưu hơn 10 năm, anh vẫn miệt mài đóng góp hai công trình nghiên cứu âm nhạc “Âm nhạc dân gian trong âm nhạc tuồng”, chủ biên sách “Nhạc tuồng”, viết kịch bản phim chân dung cho các nghệ sĩ, cùng nhiều bài viết, tham luận, nói chuyện trao đổi về âm nhạc tuồng trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Trong nhà anh hiện có nhiều phần thưởng được xếp đặt cẩn thận trong ngăn tủ là sự ghi nhận xứng đáng dành cho người nghệ sĩ, chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng - người một đời gắn với nghiệp tuồng như duyên nợ vấn vương…

Hoài Nhơn: Ðưa dân ca vào trường học

đăng 05:10, 23 thg 10, 2012 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 10:44, 16 thg 9, 2014 ]

Hoài Nhơn là huyện có phong trào hát dân ca khá mạnh. Ðây là tiền đề thuận lợi để ngành giáo dục huyện thực hiện thành công đề án đưa dân ca vào các trường THCS trong năm học 2012-2013.

Đưa dân ca vào các trường THCS

Hiện nay, một số trường THCS trên địa bàn huyện Hoài Nhơn, như: THCS Hoài Hương, Hoài Thanh Tây, Tam Quan, Bồng Sơn… đã có câu lạc bộ (CLB) “Em yêu làn điệu dân ca” được hình thành từ năm 2008, thu hút đông đảo học sinh ở các khối lớp tham gia.

Để triển khai đề án đưa dân ca vào tất cả các trường THCS, vừa qua, Phòng GD-ĐT Hoài Nhơn đã tập huấn cho 29 giáo viên của 17 trường trên địa bàn huyện. Các giáo viên đã được giới thiệu về dân ca Việt Nam như dân ca Trung du và vùng châu thổ Bắc Bộ với nhiều thể loại hát xoan, hát ghẹo, hát chèo tầu, hát dặm, hát văn, ca trù, chèo, hát ví, hát đúm, hát trống quân, hát quan họ, hát xẩm; dân ca các dân tộc miền núi phía Bắc; dân ca Bắc Trung Bộ; dân ca Tây Nguyên; dân ca Nam Bộ. Qua đó, các giáo viên đã hiểu rõ thêm về nguồn gốc xuất xứ của những làn điệu dân ca và biết hát đúng, hát hay các làn điệu.

 

Một tiết học hát dân ca ở Trường THCS Hoài Hương.


Ông Huỳnh Thanh Phong, chuyên viên môn Nhạc-Đội Phòng GD-ĐT Hoài Nhơn, cho biết: “Năm học 2012-2013, Phòng đã chỉ đạo cho 100% trường THCS tiến hành dạy hát dân ca theo đề án “Đưa làn điệu dân ca vào trường học”. Đến nay, đã có 6 trường có CLB “Em yêu làn điệu dân ca”. Riêng các trường tiểu học cũng đưa hát dân ca vào hoạt động ngoại khóa và sinh hoạt Đội”.

Theo ông Lê Văn Tình, Giám đốc Trung tâm VH-TT-TT huyện Hoài Nhơn, Trung tâm đang phát động phong trào đàn và hát dân ca, bài chòi trong toàn huyện. Các xã, thị trấn đều hưởng ứng tích cực, điển hình là xã Tam Quan Nam và Hoài Hương có khá đông đoàn viên thanh niên, học sinh tham gia. “Trung tâm có kế hoạch tổ chức hội thi đàn và hát dân ca toàn huyện, mời tất cả trường THCS tham gia trong năm tới, trong đó tập trung thể hiện các làn điệu bài chòi của Bình Định”, ông Tình nhấn mạnh.

Để thực hiện thành công

Đề án “Đưa dân ca vào trường THCS” của ngành GD-ĐT Hoài Nhơn đã thu hút sự quan tâm, đồng tình của các bậc phụ huynh, học sinh. Em Đỗ Thị Tường Ni, học sinh lớp 8A6, một trong những thành viên tích cực của CLB “Em yêu làn điệu dân ca” của Trường THCS Hoài Hương, cho biết: “Em tham gia CLB dân ca của trường từ năm lớp 7. Dù chưa hát đúng với phương ngữ của vùng, miền, nhưng nội dung, ý nghĩa và giai điệu mượt mà của các bài dân ca làm em rất thích”.

Còn ông Sử Hường, phụ huynh em Sử Hoàng, học sinh lớp 8 Trường THCS Hoài Mỹ thì phấn khởi cho biết: “Chúng tôi rất hoan nghênh việc nhà trường đưa dân ca vào dạy cho học sinh, nhất là bài chòi, các điệu lý, điệu hò mang bản sắc ở địa phương mình. Chúng tôi sẽ đồng hành cùng nhà trường, vận động và tạo điều kiện cho con em mình tham gia vào các CLB dân ca; góp nhặt, sưu tầm, chia sẻ những làn điệu, bài dân ca mình biết”.

Mô hình CLB dân ca được xem là bước đệm, hoạt động thiết thực thúc đẩy hiệu quả của đề án, song điều băn khoăn là kinh phí sinh hoạt của các CLB không có. Ông Mai Xuân Đạo, chủ nhiệm câu lạc bộ “Em yêu làn điệu dân ca” của Trường THCS Hoài Hương, cho biết: “Trong quá trình luyện tập, tôi chú trọng nhất là dân ca khu vực liên khu V, sau đó là dân ca quan họ Bắc Ninh, dân ca Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Hiện CLB còn khó khăn về nhạc cụ tập luyện và biểu diễn…”.

Còn ông Võ Hồng Việt, Phó hiệu trưởng Trường THCS Bồng Sơn, kiến nghị, để Đề án đạt hiệu quả cao, cần bổ sung kinh phí hoạt động thường xuyên, đầu tư mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác luyện tập, biểu diễn; ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, triển khai kế hoạch thực hiện đồng bộ, giúp các trường soạn thảo quy chế hoạt động đúng hướng; đồng thời tổ chức các hoạt động theo chuyên đề, hội diễn hoặc liên hoan tiếng hát dân ca…khơi dậy trong tâm hồn các em lòng đam mê hát dân ca.

TÌM VỀ PHỐ CỔ QUY NHƠN TRONG LỊCH SỬ

đăng 22:08, 10 thg 10, 2012 bởi Hai Yen   [ đã cập nhật 11:08, 16 thg 9, 2014 ]

Một đoạn phố cổ Quy Nhơn.(ảnh tư liệu)

Ra đời và hình thành như một số thương cảng dọc theo ven biển miền Trung, Quy Nhơn từng đóng vai trò quan trong trong sự phát triển kinh tế Đàng Trong từ thế kỷ XVI- XVII. Những dãy phố sầm uất bên cạnh các hiệu buôn nổi tiếng đã minh chứng về một thời huy hoàng của thành phố biển này.

Văn hóa Việt - Hoa

Một gia tài vô giá, không dễ nơi nào có được đã trao lại cho Quy Nhơn, cho Bình Định. Tuy nhiên, điều trái ngược là trong khi các địa phương cận kề Bình Định xem cái rêu phong cổ kính của lịch sử trở thành điểm đến của du lịch, từng ngày làm ra của cải vật chất, thì Quy Nhơn chưa chú trọng lắm về “tài sản” này.

Dưới con mắt của người xưa, Quy Nhơn có tầm quan trọng trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài, không chỉ với các thương nhân Trung Hoa, Nhật Bản, Công Ty Đông Ấn (Hà Lan)  và các nước láng giềng Đông Nam Á mà còn cả vùng Trung Cận Đông xa xôi nữa. Quy Nhơn thực sự đã có một chiều dài lịch sử đáng tự hào. Những kiến trúc cổ rêu phong trong mảnh đất Quy Nhơn là những bằng chứng hùng hồn về những giai đoạn hào hùng đó.

Sử cũ chép, năm 1651 Chúa Nguyễn Phúc Tần cho đổi tên Quy Nhơn thành Quy Ninh; Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy tên cũ Quy Nhơn như cũ. Phủ Quy Nhơn vẫn là tên gọi được dùng trong suốt thời kỳ Tây Sơn và nhà Nguyễn cho đến 1830. Vào cuối thế kỷ XIX, khi người Pháp thiết lập bộ máy cái trị trên vùng đất này, một đô thị mới ra đời bên bờ Thị Nại với tên gọi là Quy Nhơn. Tên chính thức của thành phố Quy Nhơn ra đời từ đó và tồn tại cho đến ngày nay.

 

Làm nên bộ mặt Quy Nhơn không phải là người Hoa như ta tưởng, mà là người Việt. Người Việt đã đến lập làng, xây dựng đình chùa phục vụ cho đời sống tâm linh của cộng đồng mình. Ngôi chùa được xây dựng sớm nhất vùng Quy Nhơn là chùa Ông Nhiêu (hay còn gọi là chùa Quán Thánh Đế). Chùa có niên đại 1837 do Nhà nước bỏ tiền ra xây dựng, quan Tổng đốc Bình - Phú đã cúng tiến trên 160 quan tiền vào việc xây dựng ngôi chùa này, ngoài ra do dân vạn chài cũng đóng góp. Người đứng đầu của Quy Nhơn là Trần Đức Hiệp nhưng Quy Nhơn mang dáng dấp của một đô thị không thể không kể đến vai trò của người Hoa. Dấu vết văn hóa để lai rõ nét nhất là những Hội Quán. Chúng tôi đã có những cuộc nghiên cứu khảo sát từ những năm 1987 và đã có những đanh giá, giá trị về loại hình kiến trúc này.

Người Hoa đến Quy Nhơn, mua đất làm nhà, lập phố mở cửa hàng, cửa hiệu, thành lập các đại lý, tùy theo quê quán, họ lập các bang để sinh hoạt, trao đổi buôn bán. Khu phố chính của người Hoa sinh sống, buôn bán là đường Trần Hưng Đạo, Ngô Thì Nhậm, Đào Duy Từ... Các nhóm người Hoa sống xen kẽ, cộng cư với người Việt trên đất mua lại của làng Cẩm Thượng, Chánh Thành. Nhà cửa, phố xá của người Hoa bên cạnh các gia đình, chùa của người Việt, ở các đường Trần Hưng Đạo, Bạch Đằng, Nguyễn Văn Bé, Đào Duy Từ, Ngô Thời Nhiệm, Trần Cao Vân... Các Hội quán như Quỳnh Phủ Hội quán (66 Mai Xuân Thưởng) nay là trường PTCS Trần Hưng Đạo; Triều Châu Hội Quán (172 Ngô Thời Nhiệm) niên đại sớm nhất của Hội quán này là Đạo Quang giáp tý (1824); Đạo Quang 30 (1850); Phúc Kiến Hội quán (259 Bạch Đằng); Quảng Đông Hội quán (181 Trần Hưng Đạo), ở đây còn chiếc Lư hương bằng đá  niên hiệu Quang Tự 38 (1893) đáng chú ý là bức chạm gỗ đề 4 chữ “Túc Tự Hồi Ty” niên đại Quang Tự 13 (1887); Ngũ Bang Hội Quán (283 Bạch Đằng) và 27 Đào Duy Từ. Ngoài ra còn chùa Ông Bổn (411 Trần Hưng Đạo), chùa này do người Hoa lập ra để cầu tài cầu lộc khi cập bến Quy Nhơn để trao đổi hàng hóa. Quy Nhơn còn có hiệu buôn trà Toàn Phát là cơ sở thương mại sớm nhất, đây là hiệu buôn độc quyền mua bán chế biến trà hiệu Con Nai đen nổi tiếng, đáng tiếc là hiệu buôn này đã bị phá bỏ bán làm ngân hàng cổ phần.

Giá trị phố cổ

Những kiến trúc theo kiểu phố của người Hoa đã được sử dụng thành các cơ sở sản xuất Tiểu thủ công nghiệp, Trường học từ năm 1983 – 1987, hiện chỉ còn dáng dấp bên ngoài, gần như đồ thờ tự bên trong đều đã bị phân tán. Trước đây, dọc theo đường Trần Hung Đạo (Gia Long cũ) từ bệnh viện Hòa Bình cho đến đường Ngô Thời Nhiệm cả dãy phố cổ gần như còn nguyên vẹn, khu phố này của Quy Nhơn gần giống với phố Nguyễn Thái Học của Hội An (Quảng Nam). Thời gian chỉ trên 30 năm nhìn lại, kiến trúc theo kiểu phố của người Hoa trên thành phố Quy Nhơn gần như bị xóa, tất cả đã được khoác lên mình một dáng dấp hiện đại. Đáng tiếc, do chưa hiểu hết nền văn hóa của Quy Nhơn xưa, những nhà quản lý, quy hoạch thành phố đã làm mai một nền tảng quan trọng cần có cho thành phố biển này.

Dạo quanh thành phố Quy Nhơn ta chỉ còn thấy một vài kiến trúc còn lại như Hội quán Phúc Kiến đã và được cải tạo từng phần theo công năng mới nhưng đồ thờ tự trong Hội quán này vẫn còn; “ Hội quán Quảng Đông” đã được sử dụng một phần làm trụ sở UBND phường Trần Hưng Đạo; “Ngũ bang Hội quán”- nơi sinh hoạt của cộng đồng người Hoa vẫn còn nhưng đã được làm nơi sinh hoạt khu vực III phường Trần Hưng Đạo; “Triều Châu Hội quán” (17/2 Ngôi Thời Nhiệm), đây là kiến trúc được giới nghiên cứu đánh giá có giá trị nhất trong những kiến trúc người Hoa tại Việt Nam. Trong  khu này có một kiến trúc hoàn toàn bằng đá, không phải được lấy từ Bình Định mà nó được đưa từ Trung Hoa sang, từ tiền đường cho đến hậu tẩm được ghép bằng những khối đá được gia công nhẵn khá tinh xảo. Với các cột vuông cao 3,8m, cạnh rộng 0,27m, ngôi nhà được kiến trúc theo kiểu chồng rường, khắc chạm tứ linh như: Rồng, Phượng, Lân với các nét chạm khá tinh xảo. Hiện bên trong còn các bức Hoành  phi, câu đối sơn son, thiếp vàng không ai bảo quản. Trong khu vực sân là nơi cư trú của 10 hộ dân, khu Chánh điện một kiến trúc gỗ khá đẹp đang trở thành nhà kho của dân cư trú trong khu vực này .

Gìn giữ và phát huy


Về kiến trúc mang văn hóa Việt có đình Cẩm Thượng cũng bị sử dụng vào công năng khác, đồ thờ tự bên trong của đình không còn gì, đình đã được trùng tu nhân kỷ niệm 100 năm Quy Nhơn. Năm 2010 UBND thành phố đề nghị xếp hạng đình là di tích lịch sử và đã được UBND tỉnh ra quyết định công nhận vào ngày 20.7.2010; chùa ông Nhiêu được xếp hạng năm 2003, mới được UBND thành phố cho chống dột vào năm 2010, chưa có phương án phục hồi các đồ thờ tự bên trong, nay đang được dùng làm nơi sinh hoạt của dân phố Phường Trần Hưng Đạo; còn hiệu buôn Toàn Phát thì đã trở thành Ngân hàng vào năm vừa rồi. Điều đáng nói là trong khi Luật Di sản văn hóa đưa ra tiêu chí về di tích lịch sử -văn hóa là “Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn  lịch sử” và Nghị định của Chính phủ cũng được hướng dẫn rất cụ thể. Theo những quy định này của Luật Di sản văn hóa và Nghị định 92/2002 NĐ-CP của Chính Phủ ban hành thì những kiến trúc của người Hoa ở thành phố Quy Nhơn cần được bảo vệ gìn giữ.

Vẫn biết là thành phố cũng đã có những đợt tổng kiểm kê đánh giá về các loại hình kiến trúc này, nhưng do thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể, nên chính quyền các cấp vô tình hủy hoại một cách vô thức các di tích có giá trị. Nghị quyết của Đảng bộ thành phố cũng như Tỉnh đều xác định Du lịch là thế mạnh của thành phố Quy Nhơn và tỉnh Bình Định, thế mạnh tiềm tàng đó là gì, sao không lấy văn hóa là một thế mạnh.

Thử đưa ra câu hỏi giả định, đến Quy Nhơn - Bình Định tham quan du lịch có gì đáng chú ý ? Biển là một thế mạnh của Quy Nhơn nhưng chưa thể so sánh với Nha Trang, Đã Nẵng…Trong khi đó, những di sản lịch sử để lại cho Quy Nhơn thì đã bị phế bỏ không thương tiếc .

Thiết nghĩ, thà muộn còn hơn không, Quy Nhơn cần phải gìn giữ những gì còn sót lại của lịch sử, không thể để cho những khối bê tông nóng bức đang hàng ngày lấn át quá khứ của thành phố có một bề dày lịch sử lâu đời.

1-10 of 77